Lục trần

Cái kiếp con người sanh ra chịu trăm cay ngàn đắng để trả cho rồi nghiệp chướng, bởi người tạo nghiệp nên phải luân hồi đời đời, không biết đâu là giới hạn.

Mà nguyên nhân những cái khổ ở đời, chính là thân ta gây nên cả. Thân ta lại có “lục căn”, sáu căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, xác thịt và y, tức là lòng.

Lục trần là: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Sắc là cái có thể thấy được, Thinh là cái có thể nghe được, Hương là cái có thể ngửi được, Vị là cái có thể nếm được, Xúc là cái mà thân thể biết được như nóng, lạnh, cứng, mềm, v.v… Pháp là cái pháp trần như những cái có thể tưởng tượng được. Sáu trần ấy làm cho ta gây ra thất tình là: Hỉ, Nộ, Ai, Lạc, Ái, Ố, Dục, nghĩa là bảy tình: Mừng, Giận, Buồn, Vui, Thương, Ghét, Muốn, rồi nó khuấy rối tâm ta, không lúc nào buông tha ra.

Người tu hành muốn tìm con đường giải thoát hầu đến cái thế giới “bất diệt,” thì phải trừ lục căn và hành lục độ.

Trừ lục căn tất nhiên không nhiễm lục trần. Ý nói ngăn cấm sáu căn đừng cho thâu thập sáu trần, để tâm được trong sạch. Ví như cái nhà (là xác thân) có sáu cửa (là lục căn), đóng chắc sáu cửa ấy (tức là trừ lục căn), thì làm sao bụi bặm (là lục trần) bay vào, mà làm lấm dơ đồ vật trong nhà đặng; đồ vật ấy tức là “tâm” của ta vậy.

Có câu: “Mục tiền vô sắc, túng giao liễu lục đào hồng, nhĩ bạn vô văn nhất niệm oanh đề yến ngữ.” Nghĩa là: Bao nhiêu màu sắc rực rỡ trước mắt, mà lòng ta không ham chuộng, thì màu sắc ấy không khi nào khoe tốt với ta đặng, khoe quí báu với ta đặng; giọng phù trầm lời tao nhã bên tai mà lòng ta không ái mộ, dẫu cho khẩu tài cách mấy đi nữa cũng không động tâm ta. Đặng như vậy mới gọi là trừ Lục Căn. Tâm ta không bị trần bợn vùi lấp, tự nhiên sáng như gương không bụi, tất nhiên không lờ; người đặng trí huệ, bởi tâm trong sạch.

Ông Xuyên Thuyền Sư có lời tụng rằng: “Như minh cảnh đương đài vạn thượng cư.” Nghĩa là: Đài gương tỏ rạng, hình dạng gì cũng rọi vào cả. Lại có câu: “Thuỷ cảnh trần phong bất đáo, thời ứng hiện vô hà chiếu thiên địa.” Nghĩa là: Nước không có gió tất nhiên không sóng, gương không bụi tất nhiên không lờ, lòng người không phát sanh tam ác “Tham, Sân, Si”, không phân biệt tứ tướng “Nhơn tướng, Ngã tướng, Chúng sanh tướng, Thọ giả tướng.” Không mê mết lục trần “Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp” thì tâm mình trong sạch, tất nhiên lục thông phát hiện, bao nhiêu chuyện quá khứ, vị lai cùng hiện tại, đều rõ đặng, thấy đặng. Ấy là chứng đặng quả A-la-hán.

Lục trần, cũng gọi là lục tặc, lục kiếm, lục thỉ, lục ác tặc, danh gọi tuy nhiều, chớ không ngoài cái phạm vi của sáu trần. Lục tặc là sáu tên ăn cướp chơn tánh người, nên gọi là tặc. Nếu rờ tới thì chết, cũng như mua gươm bén về đâm mình, bằm thây mình, gọi là lục kiếm. Như mũi nhọn bắn yết hầu mình, xuyên tâm mình, nên gọi là lục thỉ.

Sắc: là sắc thân, hình sắc, nói tóm lại những cái hình dạng coi xinh đẹp, quí báu đều gọi là sắc. Mắt thấy cái giả sắc ấy cho rằng tốt đẹp, sanh lòng tham muốn, làm cho tâm ta rối loạn, nên kêu là trần (bụi trần).

Thinh: là tiếng, như giọng nói, lời ca hát, tiếng đờn, tiếng quyển, tiêu tao thanh nhã, làm cho tai nghe tới, tinh thần phải mê mệt, làm cho tâm ta rối loạn. Ta cứ ưa nghe nó hoài, thì cái chơn thân mờ ám, ngày kia ắt sa vào lục đạo.

Hương: là các mùi thơm tho như dầu thơm, phấn thơm, vân vân… Mũi hít vào bắt tinh thần ưa mến, cũng như bướm kia đói hoa khát nhuỵ, mà phải đổ đường tìm hoa, xúi ta mua sắm cho thoả lòng dục vọng, làm vậy nên tinh thần u ám.

Vị: là mùi ngon trong vật ăn uống. Cách cư xử của người đạo đức, ăn no bụng thì đủ, chẳng cần cao lương mỹ vị. Phật nói: “Thực thiểu vô cầu”, nghĩa là ăn ít không tham. Nếu ăn ngon miệng tốn kém nhiều, phải sanh lòng tham ác.

Xúc: là đụng chạm vào xác thân và tinh thần. Xúc vào xác thân như: nóng, lạnh, cứng, mềm. Xúc vào tinh thần như hơi thơm, thúi, vân vân… Vậy thời ăn mặc miễn phương tiện thời đủ, cách giản tiện đó là cao thượng hơn cách xa hoa mỹ lệ.

Pháp: là cái pháp trần, như những cái có thể tưởng tượng được, như tưởng đến việc công danh, phú quí, và các điều lợi mình, hại người cùng những việc trái với đạo lý, đều hại cho tinh thần cả. Có bài thi rằng:

Sắc tướng đừng xem giữ tánh không,

Thinh âm nghe đến khiến xao lòng.

Hương nồng ngào ngạt xin đừng mến,

Vị thấm ngọt ngon dặn chớ trông.

Xúc cảm cao sang sanh dục vọng,

Pháp cầu danh lợi chớ nên mong.

Sáu điều hư thiệt bày rành rẽ,

Giữ đặng ngày sau thoát cõi hồng.

Advertisements

Con Người và Nghiệp Quả

Nghiệp được phát xuất từ thân khẩu ý, vậy nó ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại và tương lai của chúng ta như thế nào?

Tuy thân khẩu ý phát sinh ra nghiệp, nhưng trên thực tế tất cả các nghiệp mà con người tạo ra đều bắt nguồn từ ý tưởng của họ trước nhất. Do đó, miệng chúng ta có nói tốt nói xấu hay thân có làm lành hay dữ thì cũng từ trong ý thức mà ra. Nói chung, tất cả những phân biệt thương ghét, giận hờn, hơn thua, phải quấy đều cấu tạo từ những ý nghĩ của chính mình. Thật vậy, Thân Nghiệp và Khẩu Nghiệp là nguyên nhân tạo nên Quả Báo khổ vui về sau cho chúng ta mà Ý Nghiệp chính là nguyên nhân của Thân Khẩu Nghiệp. Thân Nghiệp và Khẩu Nghiệp có tác dụng trực tiếp với mọi người vì những việc làm hay lời nói tốt xấu, thiện ác đối với kẻ khác sẽ tạo thành những quả báo khổ vui về sau.

Một người làm nghề cướp bóc giết người, gây tai họa đau thương cho người khác thì chính Thân Khẩu Nghiệp nầy sẽ quả báo sự nghèo khổ và chết thảm thiết cho hắn ta về sau và kiếp sau.

Trái lại, một người về Việt Nam làm từ thiện, giúp các em trong viện mồ côi, giúp kẻ tật nguyền nghèo khổ thì sẽ được quả báo giàu sang, phú quý và trường thọ về sau. Nhưng Tâm có nghĩ thì Miệng mới nói và Tay mới làm, vì thế ý nghĩ của đời nầy tạo thành hành vi và lời nói ở đời sau. Thật vậy, Ý nghiệp là nhân của đời trước và thân khẩu nghiệp là quả cho đời sau. Nếu có người mà thông thái bây giờ là tại vì kiếp trước họ thích đọc sách, suy tư. Hoặc có kẻ nói năng phóng đảng và hành động tà dâm vì tiền kiếp họ luôn suy nghĩ về chuyện tà dâm, dối trá. Nói một cách khác là Ý nghiệp đời trước sẽ chuyển thành nhân cách của họ cho đời nay. Chúng ta thấy có nhiều gia đình rất đạo đức, nhưng con cái của họ thì ngỗ nghịch độc ác, không nghe lời dạy dỗ của cha mẹ. Tại sao vậy? Vì lời nói ngỗ nghịch và hành động độc ác của chúng đời nay chính là quả báo của ý nghiệp hay tư tưởng xấu từ đời trước chuyển đến. Do đó cổ nhân có câu:”sanh tử bất sanh tâm” hay là “Cha mẹ sanh con trời sanh tánh” là vậy. Khi thần thức đi tái sinh vào đời sau thì tất cả những chủng tử của nghiệp thức từ đời trước sẽ chuyển đến cho hài nhi để tiếp nhận những quả báo nầy và nhân cách là kết quả của ý nghiệp đã tạo nên. Vì vậy có những kẻ rất đạo đức và thiện tâm ngay từ trong bụng mẹ còn có người đã độc ác từ khi chưa chào đời. Hoặc có những người đời nầy thiện cũng làm mà ác cũng chẳng tha là vì kiếp trước họ thường hay nghĩ tốt xấu. Nói tóm lại tất cả những nhân cách đó đều do tư tưởng, tức là ý nghiệp, từ đời trước tạo thành và chuyển đến.

Trong số bạn bè của chúng ta, tại sao ông kia thích làm việc từ thiện? Hay cô nọ chỉ muốn làm ca sĩ? Bởi vì đời trước ông nầy ham thích suy nghĩ về việc giúp người còn cô kia thì dụng tâm suy nghĩ rất nhiều về sự đam mê của âm nhạc. Hoặc tại sao có người muốn đi tu? Vì đời trước họ thích suy tư về Phật pháp và trong tâm ôm ấp tư tưởng cứu độ chúng sanh.

Vậy nếu muốn có một nhân cách phi thường ở đời sau thì ngay bây giờ chúng ta hãy bồi dưỡng những tư tưởng cao thượng và loại trừ những tư tưởng thấp hèn. Hãy phát huy tâm Bồ-đề để mang niềm vui và tình thương cho mọi người. Loại bỏ tham-sân-si để tâm được yên tịnh vì những cám dỗ, si mê và giận hờn đã làm tâm của chúng ta mê muội để tạo ra Ý nghiệp.

Có người nói rằng nếu ai làm việc thiện, nói lời thiện chỉ vì tâm hồn họ suy nghĩ điều thiện. Nếu điều nầy là đúng, tức là ba nghiệp của thân khẩu ý đều thiện thì chắc chắn đời sau họ phải được giàu sang phú quý và có nhân cách khả kính. Nhưng sự thật chưa chắc như vậy bởi vì chúng ta thấy hằng ngày có người rất giàu có, quyền uy, nhưng lại rất ích kỷ và độc ác, còn có người tuy nghèo khổ, bần hàn nhưng rất từ bi và khả kính. Kết quả như vậy là vì thân khẩu nghiệp làm một đường mà ý nghiệp nghĩ một nẽo. Nói một cách khác là kẻ giàu mà ích kỷ là kiếp trước họ tu phước mà không tu huệ, còn kẻ nghèo mà tốt là họ tu huệ mà không tu phước. Phật dạy muốn hạnh phúc viên mãn thì phước huệ phải song tu.Nói như thế thì mặc dầu hiện tại đang sống trong đời nầy, nhưng chính tự tay chúng ta đã kiến tạo cho mình dần dần một cuộc sống ở đời sau. Cứ mỗi nghiệp mà chúng ta tạo tác chính là một vết mực để vẽ cho bức tranh của đời sau, vì vậy không phải sau khi chúng ta chết thì thần thức mới đi lang thang trong cõi Thân Trung Ấm để tìm kiếm cha mẹ mới của mình mà thật ra tất cả những Nghiệp Quả cộng với nhân duyên đã kiến tạo và hoàn tất cho đời sau của chúng ta trước khi chúng ta mạng chung. Đó là tại sao chúng ta thấy trong câu chuyện Luân Hồi có người chết tại Mỹ mà tái sinh ở Miến Điện, hoặc chết là đàn ông mà tái sanh làm đàn bà.

Vậy tiến trình nầy xảy ra như thế nào?

Trong kinh điển của Phật giáo, khi một người chết thì thân vật lý không còn tồn tại, nhưng thần thức vẫn tiếp tục tồn tại với một sự sống trong thế giới vô hình. Cái ngã nơi Thân Trung Ấm này cũng vẫn là cái Ngã như lúc chúng ta còn sống. Chẳng hạn như trước khi chết chúng ta là ông A thì ở trong Thân Trung Ấm chúng ta vẫn thấy mình là ông A. Cho đến khi duyên đã hết, phải thác sinh về một kiếp khác, Thân Trung Ấm tan biến và sự sống bắt đầu thành hình ở bào thai mới thì lúc đó cái Ngã cũ thật sự chấm dứt hoàn toàn. Cái thời điểm mà Thân Trung Ấm tan biến luôn luôn đồng thời với cái lúc tinh trùng người cha lọt vào noãn bào của mẹ. Giây phút nầy cái Ngã cũ đã hết nên ông A không còn biết mình là ông A nữa, vì thế khi mang một hình hài mới thì tất cả những chuyện về đời trước đã quên hết. Hài nhi từ nay sẽ mang một hình hài mới, tên họ mới, dòng họ mới và dĩ nhiên là một số phận mới.

Cuộc sống hằng ngày chúng ta tạo nghiệp thì tất cả những nghiệp quả sẽ sắp xếp rõ ràng cho cuộc đời của kiếp sau. Chúng ta sẽ sinh vào gia đình nào, làm con cái của ai và cuộc sống sẽ như thế nào đã được an bài trước khi chúng ta nhắm mắt.

Dựa theo lý luận của khoa học ngày nay thì khi có sự giao hợp, người nam phát sinh khoảng 500 triệu tinh trùng. Nếu có những tinh trùng mang nhiễm sắc thể X kết hợp với tiểu noãn sẽ tạo thành một bào thai gái và những tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y kết hợp với tiểu noãn sẽ tạo thành bào thai trai. Nhưng do nghiệp của người đó tạo tác khi còn sống sẽ là động lực chính quyết định người đó sẽ mang thân nam hay thân nữ khiến cho tinh trùng loại nào sẽ được lọt vào tiểu noãn. Khi tiểu noãn thụ tinh, các nhiễm sắc thể của tinh trùng và của trứng phối hợp thành 46 cái để bắt đầu tạo thành sự sống. Trong số 46 cái thì một nửa là nhiễm thể của cha và một nửa còn lại là của mẹ. Đây chính là nguồn gốc có sự khác biệt giữa những cá thể trong nhân loại. Hài nhi, lúc bấy giờ mặc dù chỉ là một tế bào tí hon, nhưng nghiệp quả tạo thành một định mệnh vô hình đã bao trùm lấy nó vì những nhiễm thể của người cha và mẹ đã định đoạt giới tính, màu tóc, màu mắt, hình tướng cũng như nhân cách và tính thông minh hay ngu đần của nó sau nầy. Khoa học chứng minh cho chúng ta thấy rằng những nhiễm sắc thể nầy có hình thể giống như vòng xoắn chạy dài và có khả năng chứa hàng ngàn phân tử di truyền, hay gọi là gene, được cấu tạo bởi Acid Desoxyribo Nucleic, gọi tắt là ADN. ADN là một chất hóa học chứa đựng tất cả những dữ kiện về sự sống và sự sinh trưởng của con người. Mỗi phân tử di truyền tự hoạt động riêng rẽ hoặc phối hợp với phân tử di truyền khác để ấn định về màu da, màu sắc của mắt và chiều cao của thân thể…Trong số 23 cái nhiễm thể của cha và 23 cái nhiễm thể của mẹ tạo thành 23 cặp thì luật Nghiệp Quả vô hình sẽ định đoạt cặp nhiễm thể nào ở lại còn cặp nhiễm thể nào sẽ bị loại bỏ. Do đó người mẹ có thể truyền lại cho con mình màu mắt, làn da và một số tính di truyền đã thụ hưởng từ ông bà để lại. Đây là một công trình rất tinh vi và phức tạp vì những nhiễm thể và tiểu noãn có thể được phân chia theo tám triệu kiểu khác nhau. Thật vậy, chính nghiệp của đứa bé đã sắp xếp cuộc tạo dựng thật công phu và quan trọng nầy. Đây là điểm đặc thù của triết lý Phật giáo vì nếu không hiểu rõ chúng ta sẽ vội tin có một Thượng Đế sáng tạo ra con người. Vâng! Chúng ta chính là vị Thượng Đế đó bởi vì nghiệp mà chúng ta đã tạo tác sẽ sắp đặt và kiến tạo cho cuộc đời của chúng ta ở kiếp sau. Tại vì sao? Chính nghiệp của đứa bé đã quy định nó sẽ làm con của gia đình nào để có thể nhận lấy tính di truyền về sức khỏe, trí khôn, hình dáng của dòng họ đó. Rồi cũng chính nghiệp tiếp tục chi phối sự phối hợp cũng như phân chia các phân tử di truyền (gene) để cho nó có những tính chất khác hẳn anh chị em của nó. Nếu đời trước nó tạo rất nhiều phước đức, thường hay giúp đở kẻ khốn cùng, che chở người hoạn nạn thì nghiệp sẽ đưa nó vào sinh trưởng trong một gia đình giàu có để hưởng phước lạc từ khi còn bé. Hoặc là trong đời trước nó thường chăm sóc sức khỏe cho mọi người, đem niềm vui và hạnh phúc cho kẻ khác thì nghiệp sẽ chọn những phân tử di truyền (gene) để tạo thành sức khỏe tốt và trường thọ cho nó ở đời sau. Khi tiểu noãn và tinh trùng kết hợp thì năng lực tâm linh kết tụ và lúc đó tâm thức mới thật sự thành hình và phát triển dựa theo tiến trình phát triển của các tế bào não bộ. Sau hai tháng thì sự phát triển của não bộ gần như hoàn tất với khoảng 15 tỷ tế bào. Với cái não bộ mà chúng ta thường gọi là trinh trắng nầy, thật ra đã chất chứa đầy đủ các mầm mống thiện ác phức tạp kết tụ do đời trước để quy định về những cá tính riêng biệt, nhân cách cũng như tính tình cho đời sau.

Luật Nghiệp Quả sắp xếp mọi tiến trình biến đổi một cách mầu nhiệm mà không bị ngăn cách bởi không gian. Chẳng hạn như vì có duyên mà anh chị em được kết với nhau nhưng vì mỗi người mang mỗi nghiệp riêng biệt của mình từ vô lượng kiếp trước cho nên mặc dù cùng cha mẹ nhưng anh chị em vẫn có sự khác nhau về tính tình, hình dáng và tài năng…Vì không thông suốt luật Nghiệp Quả nầy mà nhiều người nói là cha mẹ sanh con trời sanh tánh là như vậy.

Có người lý luận rằng khi người chết thì tâm thức cũ sẽ được chuyển qua bào thai mới, do đó nếu đời trước người đó thông minh thì đời sau chắc chắn sẽ tiếp tục thông minh tài giỏi, còn kẻ ngu dốt thì đời sau sẽ ngu dốt mãi mãi. Thật ra thì không có tâm thức nào rời thân cũ để nhập qua bào thai mới cả mà chỉ có Nghiệp Quả mới quy định mọi tiến trình nầy mà thôi. Như đã nói tư tưởng tức là Ý Nghiệp từ đời trước sẽ là nhân mà Thân Khẩu Nghiệp nhận lãnh đời nầy chính là quả báo của nó. Nếu đời nầy chúng ta có được nhân cách tốt chỉ vì đời trước chúng ta luôn tâm niệm lành. Một bác học đời trước mà lúc nào cũng có lòng đố kỵ, sợ người khác giỏi hơn mình thì kiếp sau có thể sẽ thành người ngu dốt.

Sự hoạt động của Luật Nghiệp Báo Nhân Quả thì thật quá phức tạp, nó phức tạp hơn hàng vạn triệu lần những máy vi tính mà chúng ta thấy hiện nay. Vâng, chính nghiệp lực là động lực vô hình đã kết hợp tất cả những nghiệp báo với nhân duyên để tạo tác và hình thành cuộc đời của chúng ta ở kiếp sau. Phật dạy hễ tạo nghiệp là phải thọ lãnh quả báo. Vậy nếu muốn đời sau gặt hái nhiều tốt đẹp thì ngay bây giờ hãy cố gắng tạo thật nhiều nhân lành và loại bỏ những tư tưởng xấu xa trong tâm tưởng của chúng ta.

Nhiều người quan niệm rằng nếu ta mắng chửi hay đánh đập kẻ khác thì mới tạo nghiệp còn mình suy nghĩ tốt xấu thì có ai biết gì đâu mà phải sợ. Thông thường con người có tính đố kỵ, hễ ai giỏi ai giàu hơn mình thì ghét, ai thua ai kém hơn mình thì chê bai, khinh bỉ. Tất cả những sự ghen ghét chê bai được phát sinh từ trong tâm tưởng của chúng ta thì chính mình đã tạo ra Ý Nghiệp rồi cho dù chúng ta chưa nói hoặc chưa có hành động gì đối với ai. Có người nói rằng đâu ai biết mình nghĩ gì thì không sợ bị đóng thuế hay bị phạt vạ. Đây là quan niệm sai lầm vì tư tưởng là Ý Nghiệp mà đã là Ý Nghiệp thì phải chịu quả báo đời sau. Vì thế dẫu người không biết mình đã nghĩ gì, nhưng chính mình đã gieo bao nhiêu cái nghiệp để phải chịu luân hồi cho đời sau.

♥‿◄ೋღKhuyết Danhღೋ►‿♥

♥´¯) ¸.☆´¯)
(¸☆´ (¸.♥´´¯`•.¸¸. ☆ ♥ ℒℴνℯ ♥

~•❤•~ Xin Gửi Tình Thương

Niệm Phật Không Nên Nhìn Thấy Lỗi Người Khác

Phật thuyết minh vì sao chẳng nên thấy lỗi người khác? Có đạo lý đấy! Trong Giới kinh thường nói kẻ phá giới Phật vẫn có biện pháp cứu được, nhưng mất chánh kiến, Phật không còn cách nào cứu nổi. Những người kia tuy phá giới, nhưng không phá chánh kiến. Vì sao? Vì họ tin tưởng Tam Bảo sâu xa, vẫn còn cứu được!

Thí dụ rõ ràng nhất là như chuyện pháp sư Oánh Kha đời Tống được chép trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục là một thí dụ rất hay. Lúc còn sống, sư Oánh Kha phá giới, tạo tác rất nhiều ác nghiệp. Sở dĩ sư được cứu là vì tin tưởng Tam Bảo, vẫn tin tưởng nhân quả, tự nghĩ mình nhất định đọa địa ngục A Tỳ. Nghĩ đến chuyện ấy, sư sợ run, cầu hỏi bạn đồng tu có cách nào cứu giúp hay không? Bạn đồng tu của sư cũng rất hiếm có, tặng sư một cuốn Vãng Sanh Truyện, bảo hãy tự xem. Sư đọc thấy người ta niệm Phật vãng sanh, tâm liền chấn động, thật sự phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Tâm sư chân thành, khẩn thiết, niệm đến ba ngày ba đêm cảm đức A Di Đà Phật hiện thân.

A Di Đà Phật dạy ông: “Ông còn sống được mười năm nữa, hãy gắng tu tập, mười năm sau, lúc ông mạng chung, ta sẽ đến rước ông”. Oánh Kha cũng hiếm có, sư thưa cùng A Di Đà Phật: “Con nghiệp chướng rất nặng, chẳng chống cự nổi những dụ dỗ, mê hoặc, người ta dẫn dụ là con lại phạm tội, phạm tội nữa thì chẳng biết mười năm sau con tạo không biết bao nhiêu là tội nghiệp, con chẳng cần sống thêm mười năm nữa đâu, bây giờ con cứ theo Phật thôi!” Phật cũng từ bi đáp ứng: “Ba ngày sau ta sẽ đến tiếp dẫn ông”. Ba ngày sau sư liền vãng sanh.

Kinh A Di Đà nói niệm một ngày, hai ngày đến bảy ngày là thật đấy, chẳng phải giả đâu. Vì sao chúng ta niệm Phật đã lâu như vậy mà chẳng được vãng sanh? Chúng ta chỉ ưa thích vãng sanh nơi cửa miệng, chứ trong tâm tham luyến thế giới này , bỏ chẳng được! Phật biết rất rõ ràng, minh bạch, biết những lời quý vị nói đều là giả, nói không thật, nên Ngài chẳng đến; quý vị thật sự muốn vãng sanh, Phật sẽ đến. Quý vị chẳng nói lời chân thật, miệng đúng, tâm sai, nên có niệm suốt đời, Phật cũng chẳng nghĩ đến, còn người ta niệm chỉ ba ngày là Phật liền nghĩ đến ngay, là vì nguyên nhân nào? Vì thật sự niệm. Nếu như ở đây chúng ta đả Phật thất đúng như thế, niệm Phật bảy ngày liền vãng sanh thì sẽ chẳng còn ai đến đây nữa đâu! Đúng vậy đó, sau bảy ngày là phải chết rồi, còn ai dám đến đây nữa!

Đoạn kinh này nói về người phá giới, nhưng chẳng phá chánh kiến, [vẫn còn là] chánh tri, chánh kiến, chẳng phải là tà tri, tà kiến. Chánh kiến đó là nhân để giải thoát, họ sẽ được cứu, được vãng sanh, không chỉ vãng sanh mà lắm khi phẩm vị vãng sanh còn rất cao nữa kia! Qua kinh điển, chúng ta thấy vua A Xà Thế, chẳng hạn theo kinh Quán Vô Lượng Thọ, vua từng giết cha, hại mẹ, theo Đề Bà Đạt Đa phá hoại Tăng đoàn, tạo tội ngũ nghịch, thập ác. Đề Bà Đạt Đa đọa địa ngục, còn vua lúc lâm chung mới sám hối, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, Phật bảo nhà vua là thượng phẩm trung sanh, thật là ngoài sức tưởng tượng của chúng ta!

Bởi thế, chúng ta mới hiểu được rằng: Có hai loại người vãng sanh Tịnh Độ, một là hạng bình thời niệm Phật tích công lũy đức, hai là khi lâm chung sám hối, phẩm vị cao hay thấp phụ thuộc sức sám hối của người đó. Vua A Xà Thế chân tâm sám hối, nên đạt được phẩm vị cao như thế. Bởi thế, chúng ta chẳng được khinh mạn những người tạo ác nghiệp, “chẳng nên thấy lỗi họ”.

Trích Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh Giảng Ký
Chủ giảng: Hòa Thượng Thích Tịnh Không
Cư sĩ Truyền Tịnh chỉnh lý
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Phiền não và Hạnh phúc

Khi trạng thái tâm (tâm sở) thiện bị đem ra khỏi tâm, phiền não tuôn vào quấy phá. Phiền não trong tâm là nguyên nhân hình thành ý tưởng bất thiện, loại phiền não tư tưởng, như ý muốn chiếm đoạt, hay ý muốn hãm hại, và cuối cùng trở thành loại phiền não tác động, biểu hiện ra bên ngoài thành hành động và lời nói bất thiện.
Trong lúc hành thiền, các chướng ngại tâm như ái dục, sân hận, dã dượi buồn ngủ v.v…cũng xâm nhập vào tâm xua đuổi các tâm thiện lành ra khỏi tâm. Giống như khi cướp xâm nhập vào nhà, nắm quyền làm chủ căn nhà. Khi ái dục chiếm tâm, kāmacchanda nīvaraṇa, xua đuổi tâm sở thiện ra khỏi tâm.

Tâm bị quấy phá không chỉ một loại phiền não, mà trong giây phút đó, còn bị ảnh hưởng bởi những loại phiền não khác như phiền não ngủ ngầm, anusaya kilesa, phiền não tư tưởng, hay phiền não tác động. Tất cả đau khổ đều gây ra bởi phiền não. Con người bị đau khổ bởi tham sân si, hay ngã mạn, bủn xỉn v.v… Nó làm cho cá nhân đau khổ và người xung quanh cũng đau khổ theo. Do đó ngay khi phiền não chiếm ngự tâm, chúng hành hạ, thiêu đốt tâm, làm cho người này đau khổ. Đây là hiệu quả của phiền não.

Đối với lửa thường còn cho thấy lửa và khói, nhưng lửa phiền não tham sân si không phát ra ngoài, nên khó thấy và khó dập tắt hơn lửa thương. Phiền não ngủ ngầm, anusaya kilesa, là loại phiền não tiềm ẩn trong tâm luôn luôn chờ đủ cơ hội để phát tác. Loại phiền não này chỉ có thể xóa sạch bằng minh sát đạo và thánh đạo. Khi có điều kiện, phiền não ngủ ngầm sẽ chỗi dậy và biến thành phiền não tác động, biểu hiện thành hành động và lời nói. Phiền não ngủ ngầm rất khó thấy, khó như khi thấy một người đang ngủ, chúng ta không biết người này sẽ chỗi dậy lúc nào. Hoặc so sánh với khả năng gây hỏa hoạn tiềm ẩn trong diêm quẹt. Khi không chánh niệm hay chánh niệm yếu, phiền não tư tưởng sẽ sinh khởi lúc tiếp xúc với vật hấp dẫn, đáng ưa thích làm phát sinh dính mắc, đưa đến dục vọng. Tâm bây giờ chỉ có sự ham muốn, không còn chứa điều gì thiện lành. Ngược lại, khi tiếp xúc vật không ưa thích, sẽ phát sinh sân hận. Khi đến mức độ thái quá, từ dạng phiền não tư tưởng sẽ trở thành phiền não tác động, biến thành hành động và lời nói bất thiện.

Khởi đầu bằng phiền não ngủ ngầm, biến thành phiền não tư tưởng, tiếp theo là chuyển thành phiền não tác động, rồi cuối cùng thành hành động và lời nói. Cũng giống như hỏa hoạn bắt đầu từ tiềm năng tạo ra lửa từ diêm quẹt, khi được quẹt, sẽ bùng cháy gây nên hỏa hoạn. Do đó nếu không muốn tâm bị ô nhiễm, điều cần thiết và phải tận diệt phiền não ngủ ngầm, nhằm vô hiệu hóa tiềm năng gây nên ô nhiễm. Muốn vậy phải luôn luôn giữ chánh niệm. Dù tư tưởng bất thiện có kịp phát sinh, khả năng chánh niệm sẽ tận diệt ngay lập tức tư tưởng bất thiện này. Nếu không có chánh niệm sẽ không thể chế ngự được phiền não, không phát triển được sự định tâm, đo đó không phát triển được trí tuệ. Vì không có trí tuệ, nên không hiểu được bản chất thực sự của đối tượng đang quán sát, và do đó dính mắc vào dáng vẻ tổng quát sinh khởi nơi tâm, nimitta-gaha, rồi trở thành hình ảnh chi tiết, anubyñjanaggaha.

Khi người cùng phái ở chung với nhau sẽ không có gì xảy ra. Nhưng khi có người khác phái sống chung, sẽ phát sinh những sự ưa thích nơi hình dáng, dính mắc nơi sắc diện, hình ảnh dàn bà, đàn ông. Nếu không chánh niệm, sẽ làm phiền não phát sinh. Bắt đầu bằng sự phân biệt nam nữ, trở thành ý tưởng ưa thích, trở nên hình ảnh ưa thích, cuối cùng sinh khởi ái dục. Ngược lại nếu không thích, sẽ phát sinh sân hận, ghen ghét. Từ lúc thấy hình dáng tổng quát, tiếp tục nhìn mãi, sẽ thấy đối tượng mang nhiều chi tiết hơn, từ vóc dáng sang mắt mũi, tóc tai, v.v…và trở nên dính mắc vào các hình ảnh chi tiết trong tâm, phát sinh ái dục. Ý nghĩ về các chi tiết càng nhiều làm cho phiền não sinh khởi trong tâm càng 1úc càng nhiều hơn. Nếu không có chánh niệm, tiếp tục suy nghĩ trong một giây, một giờ, tâm sẽ liên tục chứa đầy các ý tưởng ái dục hình thành từ các đối tượng sinh khởi qua lục căn. Sự thỏa thích hưởng thụ cảm giác mang lại từ sự ưa thích này gọi là dục lạc, một loại hạnh phúc pha trộn, vyāseka sukha. Khi nghe bản nhạc du dương, tâm sinh khởi ưa thích và phát sinh sự ham muốn được nghe thêm nữa. Sự ham muốn diễn ra liên tục trong khi hưởng thụ là loại hạnh phúc ái dục, thuộc loại hạnh phúc tạp nhạp. Tự nơi đối tượng không mang ưa ghét, nhưng vì dính mắc nên phát sinh ý tưởng ham muốn. Hạnh phúc dục lạc hình thành bằng đường lối này. Giống như bản chất tự nhiên của thịt là lạt lẽo, nhưng trở nên thơm ngon khi được ướp gia vị. Hạnh phúc dục lạc hình thành bởi lòng ham muốn được bỏ thêm vào đối tượng. Do vậy, dục lạc, hay hạnh phúc ngũ dục thuộc loại hạnh phúc tạp nhạp, missaka sukha. Cho đù đối tượng có đáng ưa thích, nhưng nếu không phát sinh ham muốn, hạnh phúc ngũ dục sẽ không hình thành. Ham muốn, hay tham ái là phiền não.

Vì chứa đựng phiền não nên hạnh phúc ngũ dục còn được gọi là hạnh phúc bất tịnh, aparisuddha sukha. Hạnh phúc phi dục lạc là loại hạnh phúc đối nghịch với hạnh phúc dục lạc. Bản chất của loại hạnh phúc này là trong sạch thanh tịnh. Đây là loại hạnh phúc mà các bạn đang theo đuổi. Nền tảng của loại hạnh phúc này là giới hạnh, chánh niệm và thu thúc lục căn. Giữ giới hạnh tròn đầy. Duy trì chánh niệm nơi tất cả các đối tượng sinh khởi nơi lục căn. Bảo vệ tâm thường xuyên bằng chánh niệm. Thu thúc lục căn luôn luôn. Kết quả của sự giữ giới, giữ chánh niệm, và thu thúc lục căn làm cho tâm được an định, adhicitta. Hạnh phúc tạo nên do sự định tâm được gọi là hạnh phúc an định. Khi chánh niệm được giữ liên tục, chế ngự được các phiền não, đẩy xa các chướng ngại, hình thành sát na định, tâm được an tịnh từ thời điểm này sang thời điểm khác. Hỉ, lạc phát sinh mạnh mẽ. Một loại hạnh phúc tuyệt diệu sinh khởi từ các tâm sở thiện lành. Đây là loại hạnh phúc phi dục lạc, loại hạnh phúc trong sạch thanh cao, avyāseka sukha. Tóm lại , khi phiền não có mặt nơi tâm, tâm bất an giao động. Khi có dính mắc vào sự vật ưa thích, phát sinh tham ái, hình thành loại hạnh phúc pha trộn, tạp nhạp, không thanh cao vì chứa đựng phiền não. Hạnh phúc dục lạc hình thành từ tham ái. Hạnh phúc phi dục lạc là loại hạnh phúc khi tâm vắng bóng phiền não, không mang tham ái. Đây là loại hạnh phúc thanh cao hiền lành chỉ kinh nghiệm được trong thiền tập.

Thiền Sư U PANDITA – Tỳ kheo Pháp Luân dịch

MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ NHÂN SINH (đời sống của con người)

Trong cuộc sống vội vã và bận rộn này, anh có từng nghĩ rốt cuộc ý nghĩa và giá trị của sinh mạng chúng ta tại thế gian này là gì không? Có phải đến để ăn? Đến để mặc? Hay đến để kiếm tiền, cầu danh lợi, tranh đấu hơn thua với người?

Hiện tại có không ít người, trong cuộc sống hằng ngày luôn có tư tưởng tham sống sợ chết, tham danh cầu lợi, tranh đấu hơn thua với người; một ngày như mọi ngày, tư tưởng ấy cứ lặp đi lặp lại không thôi. Thấy cái mọi người muốn mình cũng muốn, cái mọi người không muốn mình cũng không muốn. Cho rằng cái mà ai cũng muốn, nhất định nó là cái tốt, cho nên ùa vào chiếm lấy, song chưa từng suy nghĩ cái đó mình có thật sự cần hay không. Đành rằng cái mọi người đều muốn thì mình muốn, cái mọi người không muốn thì lập tức vứt nó qua một bên, vậy cái mọi người đã bỏ đi, mình còn muốn nó làm gì nữa?

Giống như loài kiến, thường thường chỉ cần có một con kiến phát hiện thấy mùi thức ăn, ngay lập tức các con kiến khác ùn ùn kéo đến vây quanh miếng mồi. Nhưng đây không phải hành vi của loài người. Đã là loài người, cần phải có quan niệm “cái mình muốn thì không nhất định mọi người đều muốn, cái mọi người muốn thì không nhất định mình phải muốn”, đây mới là nhân cách độc lập thật sự. Nhưng, hơn phân nửa nhân loại lại thích rập khuôn theo người khác một cách máy móc, đây là hiện tượng đáng báo động và đau lòng.

Nếu chúng ta sống mà không có mục đích, chắc chắn sẽ cảm thấy nhạt nhẽo vô cùng, cảm thấy sinh mạng chẳng có chút giá trị gì, giống như thây chết di động, thế hà tất phải sống để chịu tội? Người như thế, sự sinh tồn của thân thể không chỉ dư thừa, vả lại còn hao phí rất nhiều vật thực và môi trường sống mà thế giới tự nhiên ban tặng.
Nên biết mạng sống của chúng ta nhất định có nguyên nhân của nó, chắc chắn cũng biểu hiện một số ý nghĩa gì đó. Mục đích của nó là gì? Cuối cùng sẽ đi về đâu? Biến thành cái gì?

Theo quan điểm của Phật giáo, mục đích của nhân sinh, hàng phàm phu đến để thọ báo và trả nợ, còn chư Phật, Bồ-tát đến để hoàn thành tâm nguyện; nếu biết thân người khó được, thấy rõ cái nào tốt cái nào xấu, lấy tốt bỏ xấu, cuộc sống mới có ý nghĩa; tiếp đến nếu có khả năng tích cực phụng sự cống hiến, lợi mình lợi người, đây chính là giá trị của nhân sinh.

“Thọ báo” là điều nhắc nhở chúng ta phải có trách nhiệm về những gì mình gây tạo, mình làm, mình nghĩ, mình nói. Mạng sống của chúng ta, không có thứ gì không phải tự làm tự chịu; nhân đã gây tạo trong đời trước, cộng thêm những việc làm tốt, xấu trong đời này, kết hợp lại tạo thành cuộc sống trong hiện tại như thế này, đây chính là nguyên nhân tồn tại của sinh mạng.

Chỉ cần quán xét thời gian ngắn ngủi của một đời, chúng ta thấy có rất nhiều chuyện tưởng chừng không công bằng, nhưng cũng chẳng biết phải giải thích ra sao. Vẫn thường thấy có một số người, đời này rất siêng năng, cố gắng, nhưng lại không thành tựu việc gì; ngược lại có những người không siêng năng, cố gắng bằng, song hết sức thuận buồm xuôi gió, thuận lợi mọi bề. Mới xem qua có gì đó hết sức bất công; kì thực, muốn rõ chuyện này, cần phải đi ngược thời gian suy xét quá khứ, suy xét từng đời, từng đời, cho đến vô lượng đời của quá khứ. Chúng ta đã gây tạo rất nhiều hành vi khác nhau, có hành vi đã thành thục và thọ báo ngay trong đời; có cái chưa thành thục, mãi đến nay chúng ta mới gánh chịu; cũng có những hành vi mãi đến nhiều đời sau nữa mới thọ báo. Những hành vi chúng ta gây tạo, có thứ tốt, cũng có thứ xấu; hành vi tốt sẽ lãnh thọ phước báo, còn gây tạo nghiệp xấu ác phải chịu quả báo khổ.

Còn về giá trị của nhân sinh, đó là gì? Rất nhiều người cho rằng giá trị của nhân sinh, chính là có nhiều tiền, có địa vị cao, có danh phận, làm cho người khác phải xem trọng. Ví dụ, người được thăng quan tiến chức, y gấm về làng, khiến cho người thương, bà con làng xóm, anh em bạn bè đều nở mặt nở mày, như thế không chỉ biểu hiện giá trị của con người anh, mà nơi anh cư trú nhờ đó được thơm lây. Nhưng, đó có phải là giá trị thực sự của con người anh không?

Giá trị thực sự không phải ở chỗ vinh dự hư huyễn của gia tộc, mà được xem xét qua thực chất cống hiến của anh. Nếu anh là người duồng gió bẻ măng, đầu cơ trục lợi, lợi dụng quyền thế nhằm đạt được danh lợi, địa vị, cho dù hiển hách một thời, cũng không được gọi là giá trị thực sự. Bởi vì giá trị này là sự chân thật của tâm, nếu đời này gây tạo nghiệp xấu ác, tức làm cho sự chân thật của tâm bị tổn hại, nhất định đời sau phải lãnh chịu quả báo tương xứng với hành vi hiện tại.

Do đó, chúng ta có thể nói: Có cống hiến và phụng sự bao nhiêu thì có giá trị bấy nhiêu. Ví dụ nói, con người tôi hiện tại có giá trị gì? Tôi đã dùng một lượng thời gian để thuyết giảng phương pháp giải thoát của Phật-đà, khuyên mọi người tu nhân tích đức, đây là giá trị của tôi. Nếu lượng thời gian đó, thay vì thuyết giảng phương pháp giải thoát của Phật-đà, tôi lại dùng nó để ngủ nghỉ, ăn cơm, hay cãi lộn với người ta, như thế không được xem là giá trị. Giá trị nhân sinh cần phải được xây dựng trên nền móng làm lợi cho tha nhân, việc làm ấy giúp mình rất nhiều trong việc hoàn thành nhân cách, nuôi lớn phước đức, trí tuệ.

Tuy phần lớn chúng ta là những người đến đời này để lãnh thọ quả báo và trả nợ, song cũng có thể học tập theo tinh thần của chư Phật, Bồ-tát, phát thệ nguyện cho cuộc sống của mình. Thệ nguyện này có thể lớn có thể nhỏ, cũng có thể phát một nguyện nhỏ cho bản thân: “Mình nguyện suốt đời này phải làm người tốt”. Hoặc tự nguyện với lòng, cả đời này không làm việc xấu, không lười biếng, không đầu cơ trục lợi, tận tâm tận lực với trách nhiệm của mình. Giả sử đời này mình không làm trọn vẹn những gì đã nguyện cũng không sao, đời sau tiếp tục làm. Cuộc sống như thế, mới có giá trị và ý nghĩa, đồng thời tràn ngập niềm tin và hi vọng.

Tác giả: Pháp sư Thánh Nghiêm
Mạt nhân Đạo Quang dịch
(trích dịch từ cuốn sách Tìm Lại Chính Mình)

Đi trong đại trí và đại bi


Một người Phật tử có chí lớn, người ấy không lập thân trên sở học hay nghề nghiệp, mà lập thân trên hạnh và nguyện của tâm bồ đề. Tâm bồ đề là tâm tuệ giác. Tâm ấy được tạo nên bởi hai chất liệu của đại bi và đại trí. Đại trí là sự hiểu biết chính xác và cùng khắp đối với mọi sự hiện hữu và không hiện hữu, trong mọi không gian và trong mọi thời gian.

Đại bi là sự thương yêu không chiếm hữu và không bị điều động bởi ngã ý, nó có khả năng dìu dắt tất cả mọi sự hiện hữu và không hiện hữu dẫn sinh đời sống an bình bằng chất liệu của đại trí. Bi và trí như vậy là bi và trí của tâm bồ đề. Người Phật tử thực tập bi và trí bằng hạnh nguyện mỗi ngày trong mỗi động tác, để thành tựu phước đức và trí tuệ cho tự thân và mở lớn hạnh nguyện ấy, đến với một người, hai người, nhiều người, mọi người và rộng lớn cho đến cùng hết thảy mọi loài trong mọi không gian và trong mọi thời gian.

Bởi vậy, bi và trí của người Phật tử không còn bị ngăn cách giữa không gian nầy với không gian kia; giữa thời gian nầy với thời gian kia; giữa người nầy với người kia; giữa chủng loại nầy với chủng loại kia. Với trí và bi như vậy, nên trái tim của người Phật tử không phải chỉ có khả năng dung hóa một mặt trời của một thái dương hệ, mà có khả năng dung hóa vô biên mặt trời của vô biên thái dương hệ trong vô biên thế giới. Và trí và
bi của người Phật tử như vậy, nên đời sống và hành hoạt của người Phật tử không phải chỉ cảm nhận sự an bình và tươi mát của một vầng trăng trong một thái dương hệ mà cảm nhận vô lượng sự an bình và tươi mát từ vô biên vầng trăng của vô biên thái dương hệ.

Dung hóa ở trong đại trí và đại bi, và từ trí bi ấy, mà người Phật tử khởi lên đại hạnh và đại nguyện làm lợi ích cho hết thảy muôn loài với vô số hình thức thuận nghịch khác nhau.

Dù là ở trong thuận cảnh, người Phật tử đang được mọi người và ngay cả chư thiên, hết lòng kính ngưỡng, ca ngợi và tung hoa cúng dường đuợc biểu hiện dưới vô số hình thức, nhưng tâm của người Phật tử không hề bị chao động và không hề khởi lên tâm kiêu mạn và thủ đắc. Và, dù đang đi trong nghịch cảnh, và đang bị vô số sự chống đối, hủy nhục, nhưng không phải vì vậy, mà người Phật tử khởi tâm nhàm chán để đánh mất tâm bồ đề và hạnh nguyện lớn rộng của mình.

Mọi hành hoạt của người Phật tử là vì lợi ích cho mọi người và mọi loài mà không phải vì bản thân, nên thành công không phải là niềm tự hào, thì thất bại cũng không phải là nỗi đắng cay. Thành công là vì mọi người và mọi loài có nhiều niệm thiện; thất bại là vì mọi người và mọi loài có nhiều tà ý và ác tâm, chứ không phải từ nơi hạnh nguyện bi và trí của người Phật tử.

Mọi hành hoạt của người Phật tử không phải vì người thiện mà bỏ người ác hay vì người ác mà bỏ người thiện, mà người Phật tử hành hoạt theo đại bi và đại trí, nên đối với người thiện, người Phật tử nguyện thân cận để giúp đỡ cho họ chuyển hóa từ thiện hữu hạn đến thiện vô cùng, và đối với người ác, người Phật tử nguyện thân cận để giúp đỡ cho điều ác của họ ngày càng giảm thiểu, để khiến cho tất cả họ đều hướng về đời sống của đại bi và đại trí.

Nên, thiện hay ác đối với người Phật tử không phải là điều thủ đắc hay không thủ đắc.

Và, vì sống bằng đời sống của đại trí và đại bi, nên người Phật tử không phải không biết làm kinh tế, mà còn có khả năng làm kinh tế một cách tài tình, để có điều kiện giúp đỡ cho những người nghèo khổ không nơi nương tựa vật chất, khiến cho họ không bị rơi vào những sợ hãi lạnh lẽo, đói khát và nhờ vậy, mà người Phật tử thành tựu hạnh nguyện tài thí một cách thực tế ngay trong cuộc sống nầy.

Người Phật tử không phải chỉ nỗ lực học hỏi một pháp môn, mà nỗ lực học hỏi và thông đạt vô lượng pháp môn, để diễn đạt chánh pháp không bị ngăn ngại, giúp cho những người không nơi nương tựa tinh thần hay tâm linh, khiến cho họ trừ diệt được hết thảy tà si mà mến yêu chánh kiến, và nhờ vậy, mà người Phật tử thành tựu hạnh nguyện pháp thí một cách thực tế ngay trong cuộc sống nầy.

Người Phật tử nỗ lực thực tập hết thảy các loại thiền định một cách sâu xa, để có đầy đủ ý chí và nghị lực, giúp cho những người tà ý, loạn tâm, trừ diệt được những tâm chí yếu hèn, sợ hãi trước những khó khăn, trước những biến đổi, thăng trầm, sống chết, và nhờ vậy, mà người Phật tử thành tựu hạnh nguyện vô úy thí, một cách thực tế ngay trong cuộc sống nầy.

Người Phật tử nguyện không làm điều ác, chỉ làm điều lành và nguyện phụng sự hết thảy chúng sanh, để cho mình và người đều thành tựu đời sống đạo đức cao thượng và có sự an lạc ngay trong những hành xử đời thường.

Người Phật tử nguyện nhẫn nhục cả thân, miệng và ý để thành tựu hạnh nguyện giải tỏa oán kết giữa mình và mọi người, giữa mình và mọi loài và để cùng nhau chung sống hòa bình.

Người Phật tử nguyện thực tập tinh cần theo hạnh và nguyện của đại trí và đại bi, khiến cho mọi tâm ý buồn chán và giải đãi không thể phát sinh, nhằm thành tựu sự thăng tiến ngay trong đời sống giác ngộ.

Người Phật tử nguyện thực tập các loại thiền định để thâm nhập tự tánh thanh tịnh của toàn thể pháp giới và chứng nhập pháp thân thanh tịnh.

Người Phật tử nguyện lắng nghe mọi âm thanh, nhìn sâu vào mọi sắc tướng, ngửi sâu các hương thơm, nếm sâu các mùi vị, tiếp xúc và nhận biết sâu các đối tượng, bằng sự quán chiếu sâu xa, để thành tựu tuệ giác siêu việt, ngay trong từng giây phút của sự sống.

Người Phật tử sống bằng đời sống như vậy, nên họ ở đâu và lúc nào, cũng dùng chất liệu của đại bi và đại trí để trang nghiêm báo thân và từ báo thân ấy, họ có vô số ứng hóa thân để hành đạo, đem lại nhiều niềm vui sống cho mọi người và mọi loài, trong từng ứng xử và trong từng bước đi của đại bi và đại trí trong mọi thời đại.

(Thích Thái Hòa)

Sắp xếp tượng thần Phật thế nào để được may mắn?


(HDPT) – Với những người Phật tử thì cách sắp xếp tượng thần Phật luôn được coi trọng. Vậy muốn đem lại vận may và sự an lành cho mình thì cách sắp xếp như nào là phù hợp nhất?

__Đối với tượng Quan Âm

Tối kị đặt tượng Quan Âm cùng các tượng thần khác. Thực tế hiện nay rất nhiều gia đình, cửa hàng hoặc nhà hàng đặt tượng Quan Âm cùng các tượng khác như Quan đế, Thổ địa. Như vậy rất không tốt và không gặp may mắn.

Sở dĩ như vậy, vì nếu trong nhà hàng, cửa hàng ăn uống thờ Quan Âm sẽ không thích hợp bởi Quan Âm vốn thanh tịnh, tinh khiết và ăn chay. Khi dâng đồ cúng Quan Âm thường chỉ cần hoa tươi và hoa quả, không được cúng đồ mặn.

Đối với hướng đặt tượng Quan Âm thì phải tránh tuyệt đối không được quay tượng Quan Âm vào các hướng, đó là: nhà vệ sinh, cửa phòng ngủ, bàn ăn. Bởi những hướng này thường không được thanh tịnh.

__Đối với tượng Phật

Thờ Phật tại gia sẽ bảo hộ sự bình an nhưng cách sắp xếp cũng phải theo những quy tắc nhất định. Đầu tiên là tượng Phật đem về nhà không nên coi là đồ cổ hay vật báu mà cất giữ cẩn thận. Như vậy sẽ ảnh hưởng tới mọi thành viên trong gia đình.

Thứ nữa là chúng ta không nên đặt tượng trong phòng ngủ; không nên mua quá nhiều tượng về nhà; không được đặt tượng tại những nơi không sạch sẽ, ẩm thấp.

Riêng đối với tranh ảnh Phật không nên cuộn tròn lạị, còn tượng cũ bị mờ mắt hoặc tay nên tô vẽ và lau chùi lại sạch sẽ.

—————————————————————————–
__Sắp đặt ban thờ theo quan niệm phong thủy

Ban thờ nên quay ra cửa chính, không nên ngược với hướng nhà có thể gây âm dương tương phản, dễ gây bất trắc, nô bộc phản bội hoặc con cái không hiếu thuận, tài vận và gia vận bị ảnh hưởng.

Ban thờ gia tiên tốt nhất nên đặt ở tầng một, gian chính giữa nhà, quay ra cửa lớn để khi vừa mở cửa vào đã nhìn thấy gia tiên, tiện bề chăm sóc.

Ban thờ phải có chỗ dựa lưng, tức kê sát vách tường để linh khí được hội tụ không bị tản mát.

Ban thờ có thờ chung tượng Thần và bài vị tổ tiên thì tượng Thần đặt ở bên trái, tổ tiên đặt ở bên phải. Nếu đặt ngược lại sẽ gây âm thịnh dương suy không tốt cho phong thủy, trong nhà dễ gặp thị phi kiện tụng, bệnh tật không dứt. Bài vị tổ tiên cũng không được đặt cao hơn của thần phật.

Bát hương thờ thần phật nên cao hơn bát hương thờ tổ tiên. Khi cắm hương thì nén hương nên cao hơn mắt người. Khi đốt hương chỉ nên đốt một que, nếu có điều cần khấn nguyện thì đốt ba que, không nên đốt nhiều hơn dễ khiến tà linh theo vào nhà.

Bát hương nên dùng hình tròn không có chân đế, chất liệu bằng sứ là tốt nhất. Bát hương thông thường không nên quá đầy tro, ngày 15 âm hàng tháng có thể rút bớt chân hương cho sạch sẽ.

Vật phẩm thờ cúng cũng cần chú ý một số điểm sau: thờ Phật và Quan Âm chỉ được dùng đồ chay do nhà Phật không ăn đồ tanh; thờ thần chủ yếu dùng hoa quả và phải là số lẻ 1, 3, 5, nếu cúng tổ tiên thì số lượng là hai chữ số.

Tịnh Giác (tổng hợp)

Cơ quan ngôn luận của Ban Hướng Dẫn Phật Tử Trung Ương
Quý vị vui lòng ghi rõ nguồn huongdanphattu.vn khi phát hành lại nội dung từ trang web này