Tịnh Độ Thực hành – Vấn Đáp

PHẦN I
VẤN ĐÁP

A. THỰC HÀNH

1. Hỏi: Chư Tổ dạy: “Hành giả Tịnh nghiệp phải tín sâu, nguyện thiết, hành chuyên”. Tín là tin, mà tin những gì và tin sâu là sao?

Đáp: Tín là lòng tin.

– Liên tông Cửu Tổ Ngẫu Ích đại sư dạy trong Kinh A Di Đà Yếu Giải, có sáu thứ tin là: tin tự, tin tha, tin nhân, tin quả, tin sự và tin lý.

– Liên tông Thập Tổ Hành Sách đại sư dạy phải có ba điều tin như sau:

a. Phải tin tâm, Phật, chúng sanh, cả ba không sai khác.

b. Phải tin tánh giác không hai.

c. Phải tin ta là Phật lý tánh, Phật danh tự, A Di Đà là Phật cứu cánh. (Xin đọc sách “Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh, Phần II – Tư lương Tịnh Độ”).
Tóm lược là phải tin như sau:

a. Tin có Phật A Di Đà, có cõi Cực Lạc.

b. Tin Phật Thích Ca không nói dối (trong ngũ Kinh).

c. Tin Phật A Di Đà không nguyện suông (bốn mươi tám đại nguyện của Phật A Di Đà).

d. Tin niệm Phật nhất định được vãng sanh, thành Phật.

e. Phải tin sâu: giá như tất cả chúng sanh trong mười phương thành bậc A la hán, thành Bồ tát đồng khuyên ta bỏ, thậm chí Đức Phật Thích Ca hiện thân bảo ta bỏ pháp môn niệm Phật cầu sanh Cực Lạc để quý Ngài chỉ dạy ta pháp khác vi diệu hơn, ta vẫn bái lạy quý Ngài mà thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn, Bạch quý Ngài, từ trước đến nay con vẫn tin lời dạy trước đây của Thế Tôn, niệm Phật A Di Đà cầu vãng sanh Cực Lạc, nay con không thể trái lại bản nguyện này”.
2. Hỏi: Làm sao để nguyện thiết?

Đáp: Nguyện là nguyền, là thề, là nói lên lòng khát khao ao ước của mình, muốn sanh về, muốn thấy Phật A Di Đà.

Nguyện phải chí thành tha thiết với đức từ phụ, lòng ta như con thơ nhớ mẹ, với cõi Cực Lạc lòng ta như viễn khách tưởng cố hương.

Cổ đức dạy: “Cho dù mỗi ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu, chẳng phát nguyện thì hét cho bể cuống họng cũng uổng công mà thôi”.

Từ Chiếu đại sư nói: “Luôn luôn phát nguyện ưa thích vãng sanh, ngày ngày nguyện cầu chớ cho thoái thất. Nếu không có tâm phát nguyện thì căn lành chìm mất”.

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Không phát đại nguyện, đó là việc làm của ma”. “Nguyện rộng thì hành sâu, hư không không lớn, tâm vương mới lớn. Kim cang chẳng cứng, nguyện lực cứng nhất”.

Muốn có nguyện thiết tha, chúng ta hãy tự quán xét lại chính mình, tìm đối tượng mình nhàm chán ghét bỏ; hoặc mình đang tha thiết mong muốn điều gì, việc gì, khía cạnh nào đó mà ở Ta bà này không thực hiện được, chỉ ở Cực Lạc mới có thể thỏa mãn được lòng mong muốn ấy, thì lấy đối tượng, sự việc ấy làm động cơ thúc đẩy ta thiết tha phát nguyện vãng sanh.

Thí dụ:

– Thật sự nhàm chán, ghét bỏ sự hiểm nguy của sanh tử luân hồi.

– Nhận rõ, ghê sợ nổi khổ đau của ba đường ác.

– Người mắc bệnh nan y, chờ chết. Ở Cực Lạc thì không bệnh, không già, không chết, được sống lâu vô hạn.

– Con em ngỗ nghịch, xì ke ma túy… mình khuyên lơn, nhắc nhở không được, sợ họ bị sa địa ngục, mình càng cần phải vãng sanh Cực Lạc để cứu độ họ.

– Hoặc cần báo đáp tứ trọng ân…

Nếu ta còn ở Ta bà sẽ bị đau khổ mãi mãi, phải bó tay, không thể cứu độ được mọi người như ý muốn. Vậy chỉ còn cách vãng sanh Cực Lạc để tránh khổ đau, được an vui, hoặc để rồi trở về Ta bà cứu độ thân nhân. Tùy mỗi người, mỗi hoàn cảnh, mỗi vấn đề, mỗi đối tượng khác nhau, có ý nguyện khác nhau, lấy đó làm động cơ thúc đẩy ta phát nguyện. Lời phát nguyện này phải xuất phát tận đáy lòng, chân thành mong muốn, ao ước thì lời phát nguyện mới thật sự thiết tha được.

Chư Tổ dạy: “Nguyện bất thiết, bất sanh Cực Lạc”.

Tổ thứ chín, Ngẫu Ích đại sư dạy: “Vãng sanh hay không là do có Tín, Nguyện hay không? Còn phẩm vị cao hay thấp là do công phu sâu hay cạn (tức Hạnh)”.

Lời nguyện phải chân thật, chí thành khẩn thiết, không phải trả bài thuộc lòng, càng không phải là việc làm lấy lệ. Dù cho biển cạn, núi tan, thời gian cùng tận, nguyện vãng sanh này quyết không hề thoái thất.

3. Hỏi: Hạnh là sao?

Đáp: Hạnh là thực hành, hành trì thực tế để làm sao đạt được sự nhập tâm (bước đầu của Bất niệm tự niệm).

Hạnh có hai: Chánh hạnh (nội công) và trợ hạnh (ngoại công).

Chánh hạnh là niệm Phật, lễ Phật A Di Đà, là chuyên tu niệm Phật (xin xem mục Chuyên tu chánh hạnh, trang 75-77, sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh).

Trợ hạnh có rất nhiều, chủ yếu là ba hạnh: đoạn ác tu thiện là giữ giới, không sát sanh (ăn chay) và phóng sanh.

Nếu chúng ta giữ trọn vẹn năm giới thì tương lai nhất định không bị đọa ba đường ác, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ít nhất cũng được trở lại làm người. Ta dùng công đức này hồi hướng sẽ được vãng sanh Cực Lạc ở phẩm vị cao.

Liên tông Bát Tổ Liên trì đại sư dạy: “Ăn mặn, ăn thịt, cá, ăn thịt chúng sanh là ăn thịt cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp của mình, là ăn thịt chư Phật vị lai (cực ác)”, “Chuộc mạng phóng sanh, cứu mạng chúng sanh là cứu mạng cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp của mình, là cứu mạng chư Phật vị lai (cực thiện)”.

Tuy là trợ hạnh nhưng ba hạnh này tích cực đóng góp vào sự thành tựu Tịnh nghiệp của hành giả. Ba việc này không ngoài tầm tay, không ngoài khả năng của mọi người. Điều quan trọng là chúng ta có quyết tâm thực hiện hay không mà thôi. Chúng tôi thiết nghĩ, là Phật tử, chúng ta nên luôn luôn làm theo lời Phật dạy (y giáo phụng hành).

4. Hỏi: Trong ba tư lương Tín, Nguyện, Hạnh, điều nào quan trọng nhất?

Đáp: Ba món tư lương: Tín, Nguyện, Hạnh là ba chân của cái đảnh, thiếu một, đảnh sẽ ngã, có nghĩa là bắt buộc phải có đủ cả ba.

Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Lòng tin là gốc vào đạo, là mẹ đẻ mọi công đức. Lòng tin hay nuôi lớn các căn lành. Lòng tin có thể vượt qua các đường ma. Lòng tin có thể được vào định. Lòng tin có thể thoát biển sinh tử luân hồi. Lòng tin có thể thành tựu đạo Giác ngộ của Phật”.

Liên Tông Cửu Tổ Ngẫu Ích đại sư dạy: “Vãng sanh hay không do có Tín, Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp tùy theo công phu sâu hay cạn”.

Chư Tổ cũng dạy: “Nguyện bất thiết, bất sanh Cực Lạc” hoặc “Niệm bất chánh, bất sanh Cực Lạc”.

Có tin sâu mới nguyện thiết, nguyện thiết rồi hành chuyên. Hành chuyên, chứng tỏ có tin sâu, nguyện thiết. Ba món này liên hệ hỗ tương lẫn nhau. Trong Tín có Nguyện, có Hành, trong Nguyện có Tín có Hành, trong Hành có Tín có Nguyện. Một là ba, ba là một (tương tức). Không cái nào quan trọng hơn cái nào cả.

Tuy nhiên phải biết tùy duyên:

a. Đối với liên hữu sơ cơ, gia duyên ràng buộc, quá bận rộn thế sự, thì lấy Tín Nguyện làm đầu, nghĩa là tinh luyện Tin sâu, Nguyện thiết, Hành pháp “Thập Niệm” để được vãng sanh là tốt rồi.

b. Đối với liên hữu túc căn sâu dày, duyên vãng sanh chín mùi, đã có tin sâu, nguyện thiết rồi thì hãy kiên trì, dõng mãnh chuyên tu chánh hạnh, chánh định nghiệp, quyết đạt Bất niệm tự niệm sâu để vãng sanh Thượng phẩm thượng sanh, hầu sớm trở về Ta bà cứu độ chúng sanh.
Màn hình làm giấy.
Phím chữ làm bút.
Màu sắc làm mực.
Thường chép kinh Phật.

Hư không dầu có hao mòn,
Tâm này Phật Pháp vẫn còn sáng soi
5. Hỏi: Bí quyết của niệm Phật là gì?

Đáp: Liên tông Bát Tổ Liên Trì đại sư dạy: “Bí quyết niệm Phật là niệm nhiều”. Nhiều ở đây phải hiểu là nhiều câu và nhiều thời gian.

Liên tông Thập Nhất Tổ Tĩnh Am đại sư và Liên tông Thập nhị Tổ Triệt Ngộ thiền sư đồng dạy: “Niệm Phật phải niệm không xen tạp và không gián đoạn”. Không xen tạp nghĩa là không hoài nghi, không mong cầu, không xen thêm bất cứ gì khác (không xen vào danh hiệu Phật, Bồ tát khác như Thích Ca, Dược Sư, Quán Âm…, tham, sân, si, … tạp niệm), để niệm được nhiều câu “A Di Đà Phật” hơn. Không gián đoạn là niệm liên tục suốt thời thời khắc khắc, không có kẽ hở (để được nhiều thời gian).

Tóm lại, xin nói rõ, bí quyết niệm Phật là: “Niệm nhiều, không xen tạp, không gián đoạn”. Muốn hành được bí quyết này, điều tối yếu là phải “Buông xả vạn duyên, chí tâm Lão thật niệm Phật”.

6. Hỏi: Sao con niệm Phật quá chừng chừng, mà không nhập tâm? Còn ông xã con niệm Phật lai rai mà được nhập tâm?

Đáp: Niệm Phật muốn đạt nhập tâm và những bước kế tiếp, phải chuyên tu chánh hạnh, chánh định nghiệp. Muốn vậy, phải đáp ứng những yếu tố sau đây:

a. Niệm Phật phải đúng cách:

– Niệm chắc thật nghĩa là miệng niệm, tai nghe, ý nghĩ phải là một. Miệng niệm Phật mà ý nghĩ lung tung (tán loạn), đó là miệng niệm Phật mà tâm không có Phật. Tổ Đức Nhuận nói: “Niệm như vậy, thét cho bể cuống họng cũng vô ích”. Thật vậy, niệm như thế suốt đời cũng chẳng được gì.

– Niệm phải không xen tạp nghĩa là không hoài nghi, không mong cầu, không xen lẫn bất cứ gì khác (như không niệm Thích Ca, Dược Sư, Quán Âm…, cũng không có tham, sân, si, ngũ dục, lục trần, thế sự…). Không gián đoạn nghĩa là liên tục ngày đêm không có kẽ hở.

– Niệm phải chuyên nhất, nghĩa là phải tinh ròng duy nhứt một thứ, không thể nay niệm sáu chữ, mai niệm bốn chữ, mốt niệm sáu chữ, lúc niệm giọng (âm điệu) hải triều âm, lúc giọng người Việt, giọng người Hoa, giọng ca hát (ca niệm Phật), nay giọng của Thầy này, mai giọng của Thầy khác, lúc niệm trầm, lúc niệm bổng (thay đổi mãi), v.v… Trường hợp nghe máy vẫn phải nghe tiếng và giọng duy nhứt của chính mình mới thật tốt.

Phải chuyên nhất mới đúng nghĩa “Nhất hướng chuyên niệm” mà Kinh Vô Lượng Thọ đã dạy.

Có nhiều liên hữu mới nhập tâm mà luôn thay đổi giọng niệm (âm điệu) nên không tiến được mà bị khựng lại (đứng chựng), tệ hại hơn đôi khi còn bị tạm chìm. Trường hợp này muốn mau hồi phục (được nghe lại) tốt nhứt nên niệm lại giọng cũ (giọng lúc nhập tâm).

b. Buông xả ngũ dục lục trần, tự tư tự lợi, danh văn lợi dưỡng, tham, sân, si, mạn.

c. Đoạn ác, tu thiện, thanh tịnh hóa thân tâm. Đoạn ác tu thiện không gì hơn ăn chay và phóng sanh. Thanh tịnh hóa thân tâm không gì hơn giữ giới, niệm Phật. (Xin đọc thêm sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh).

d. Quyết chí tử hạ thủ công phu, lấy bốn chữ A Di Đà Phật hay sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật làm bổn mạng của mình, ngày đêm dõng mãnh Lão thật niệm Phật, không mỏi mệt, quyết giữ cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời.
Bốn yếu quyết nói trên tùy mức độ thực hiện, có khả năng đưa hành giả đạt từ Nhập tâm đến Bất niệm tự niệm, (Thành một khối), Sự Nhất tâm bất loạn và Lý Nhất tâm bất loạn (Lý niệm Phật tam muội).

Trường hợp ông xã của liên hữu là cá biệt, muôn người chưa có một. Vị này có túc căn sâu dầy, niệm ít mà nhập tâm, ví như lu nước sắp đầy, chỉ nhỏ một ít là tràn trề.

Còn trường hợp của liên hữu là vì hoặc hành trì không đáp ứng bốn yếu quyết kể trên (không như pháp), hoặc túc căn cạn mỏng, ví như lu nước còn quá lưng. Vậy, hãy cố gắng thường xuyên nhỏ nước vào lu, nhất định có ngày phải đầy. Đã đầy thì quyết định phải tràn, dù không muốn tràn nó vẫn cứ tràn, tự nhiên đơn giản thế thôi.

Kính xin liên hữu hãy tự kiểm rồi sẽ biết mình phải làm gì?

Phụ chú: Kinh nghiệm thực tế cho thấy:

(1) Bản thân tôi ngu dốt, mò mẩm hành trì rất nhiều năm mà không kết quả. Cuối cùng biết cách (ý trì, lão thật niệm Phật), quyết tâm hành trì miên mật mười hai ngày đêm được nhập tâm.

(2) Có tám Phật tử, hai nam, sáu nữ ở các nơi (Việt Nam: Đà lạt; Mỹ: Colorado, Pennsylvania, Maryland) về tu Phật thất tại tu viện Tịnh Luật (Texas), nói chung, từ ngày 1 tháng 6 đến ngày 13 tháng 7 năm 2011. Có một ưu bà tắc lão thật niệm Phật (ý trì) hai ngày liền nhập tâm, hai ưu bà di hành trì ba ngày nhập tâm, còn lại năm vị kia nhập tâm vào ngày thứ tư và thứ năm sau khi nhập Phật thất.

Tóm lại, tất cả tám vị này đều nhập tâm trong vòng năm ngày lão thật niệm Phật. Đặc biệt trong số này có một vị nam đạt Bất Niệm Tự Niệm (nghe tiếng niệm Phật không xen tạp, không gián đoạn, suốt thời gian còn thức) sau bảy ngày miên mật hành trì.

Thời gian Phật thất còn lại là huân trưởng mức Nhập tâm và Bất Niệm Tự Niệm.

Đây là một thành quả hết sức khích lệ, chứng minh rằng hành trì như pháp (đáp ứng bốn yếu quyết đã trình bày trên) sẽ mang lại kết quả nhanh chóng không tưởng nghĩ nổi, và cũng là gương tốt cho hành giả chuyên tu Chánh hạnh, Chánh định nghiệp, Lão thật niệm Phật, tu Phật Thất tại tu viện Tịnh Luật (Texas).

Nam mô A Di Đà Phật.

7. Hỏi: Niệm A Di Đà Phật và niệm A Mi Đà Phật cách nào đúng?

Đáp: Hai cách đều được cả.

“Nam mô A Di Đà Phật” vốn là từ tiếng Phạn, đọc là “Namo Amitabha Buddha” được phiên âm, khác nhau như sau:

– Người Việt Nam niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. Cách niệm này đã có từ xưa.

– Người Trung Hoa niệm “Namo Amituofo”.

– Người Nhật niệm “Namu Amida Butsu”.

– Các dân tộc khác dĩ nhiên niệm khác nữa.

– Gần đây Hòa thượng Trí Tịnh cho rằng niệm chữ Di không được êm tai và bị trệ tiếng. Vì thế, Ngài sửa lại là “Mi” nên thành ra “Nam mô A Mi Đà Phật”.

Nếu nói rằng niệm đúng nguyên âm tiếng Phạn “Namo Amitabha Buddha” mới được Đức Phật tiếp dẫn, thì người Nhật, người Hoa và nhiều dân tộc khác niệm không đúng âm ấy, chẳng lẽ Ngài không tiếp dẫn sao? Ngài có tha tâm thông, dù niệm cách nào Ngài đều biết cả, đâu phải Ngài chỉ nghe bằng thiên nhĩ thông không thôi!

Kinh dạy: “Linh tại ngã, bất linh tại ngã”, nghĩa là linh thiêng, hiệu nghiệm hay không là do ở mình. Do ở mình có tin, có chí thành, có nhất tâm niệm hay không. Bằng chứng là từ xưa đến nay vô số người Việt, Trung Hoa, Nhật… đều được Phật tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc, chẳng sai.

Vì những lý lẽ trên, tôi nghĩ niệm “Nam mô A Di Đà Phật” hay “Nam mô A Mi Đà Phật” đều được cả, tùy theo đức tin và ý thích của mỗi người.

Nam mô A Di Đà Phật.

8. Hỏi: “Niệm Nam mô A Di Đà Phật” (sáu chữ) và niệm “A Di Đà Phật” (bốn chữ) cách nào tốt hơn?

Đáp:

a. Xét nghĩa:

– Danh hiệu là A Di Đà Phật.

– “Nam mô” là qui mạng, là quay về nương tựa.

b. Thực hành:

– Niệm “Nam mô A Di Đà Phật” (sáu chữ) là nói quay về nương tựa Phật A Di Đà, tỏ lòng thành kính. Niệm sáu chữ như vậy dễ cảm ứng hơn.

– Niệm “A Di Đà Phật” (bốn chữ), ngắn gọn dễ nhập tâm hơn. Còn việc thành kính là do ở tâm mình.
Liên Trì đại sư dạy đại chúng niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, còn Ngài thì niệm “A Di Đà Phật”.

9. Hỏi: Niệm “Nam Mô” hoặc niệm “Mô Phật” hoặc niệm “Phật” mà có Tín và Nguyện có được vãng sanh Cực Lạc không?

Đáp: Có ba trường hợp như sau:

a. Người có tin sâu, nguyện thiết, thông suốt lý “một là tất cả, tất cả là một” thì trong lúc niệm “Mô Phật” hay niệm “Phật” tâm hành giả cho đó là “Nam mô A Di Đà Phật”. Vậy là đủ Tín, Nguyện, Hạnh nên được vãng sanh.

b. Người tin không sâu, nguyện không thiết, nếu niệm nhóm từ trên, chúng không phải danh hiệu của Phật A Di Đà, không đúng bổn nguyện của Ngài, nên sẽ không được Ngài tiếp dẫn.

c. Niệm “Nam Mô” không đủ nghĩa (Nam mô là qui mạng, vậy thì qui mạng với ai mới được chứ?), không đúng bổn nguyện của Phật A Di Đà, nên không được vãng sanh.
Kính xin quý liên hữu hãy thận trọng!

Niệm Phật Thành Phật
Niệm Ma Thành Ma.
10. Hỏi: Niệm Phật và tu các công hạnh khác có cần hồi hướng không?

Đáp: Niệm Phật A Di Đà và tu tập hai hạnh chánh và phụ, thì không cần phải hồi hướng riêng biệt (Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập, trang 25). Còn tu tập tạp hạnh, cần phải hồi hướng mới thành nghiệp vãng sanh.
Màn hình làm giấy.
Phím chữ làm bút.
Màu sắc làm mực.
Thường chép kinh Phật.

Hư không dầu có hao mòn,
Tâm này Phật Pháp vẫn còn sáng soi.
11. Hỏi: Hành giả Tịnh nghiệp có bắt buộc phải lần chuỗi để niệm Phật không?

Đáp: Không bắt buộc. Mục đích lần chuỗi là để:

– Cột tâm ý vào hạt chuỗi, không cho khởi vọng niệm, vọng tưởng.

– Đếm được số câu niệm Phật, cố niệm cho đủ số đã ấn định, tránh lười biếng giải đãi.

Vậy lần chuỗi rất cần cho những vị mới tập niệm Phật. Nhưng nếu không khéo, niệm lâu thành thói quen (tập khí) thì miệng niệm, tay lần chuỗi mà ý tự do phóng túng nghĩ tưởng lung tung đủ thứ, hoặc vì muốn cho đủ số, cố gắng niệm quá nhanh, miệng niệm lia lịa, tay lần chuỗi liền tù tì, mà tâm không bắt kịp tiếng.

Trường hợp này, miệng niệm Phật, tay lần chuỗi mà tâm không có Phật, gọi là hữu khẩu vô tâm. Tổ Đức Nhuận bảo: “Niệm như vậy thét cho bể cuống họng cũng vô ích”. Vậy lần chuỗi phải chân thật, tránh làm lấy lệ, biểu diễn. Mặt khác, ý theo dõi đếm số là bị phân tâm. Tay lần chuỗi, làm thân động, thân động thì tâm động theo (không an định). Vì những lý lẽ trên, hành giả niệm Phật lâu rồi không cần dùng chuỗi. Nếu muốn tính số câu Phật hiệu đã niệm, thì tốt hơn nên dùng đồng hồ tính thời gian đã niệm.

12. Hỏi: Con bận rộn quá, vừa phải đi làm, vừa phải lo việc nhà, cơm nước cho chồng cho con, làm sao có thì giờ rảnh để niệm Phật, thưa Thầy?

Đáp: Đối với người mới tập niệm Phật, hoặc người quá bận rộn, nên hành pháp Thập niệm như sau:

– Sớm mai thức dậy phục sức xong rồi, chắp tay hướng về phương Tây, niệm: “Nam mô A Di Đà Phật”. Nên lấy hơi dài, niệm liên tiếp một hơi, kể là một niệm, niệm đủ mười hơi, là mười niệm. Nhưng đừng quá cố gắng, hơi dài hay ngắn, tiếng cao hay thấp, niệm chậm hay mau, đều tùy theo sức mình.

– Niệm xong, phát nguyện vắn tắt cầu sanh Tây phương Cực Lạc.

– Nếu có thờ Phật, nên thắp hương cúng Phật xong, đối trước Phật mà niệm. Khi vào và lui ra phải lễ Phật ba lạy.

– Chỉ nên niệm mười hơi, vượt quá mười hơi, dễ sanh bệnh.

Trên đây là định mức tối thiểu dành cho người mới tu tập (sơ cơ) và người quá bận rộn. Tiến sâu hơn, hành giả nên tập niệm Phật “thành thói quen cho đến trở nên ghiền” (sẽ đề cập ở phần kế tiếp). Ngày ngày chí thành khẩn thiết niệm Phật đều đặn, không thiếu sót (không bỏ sót ngày nào). Cộng thêm trợ hạnh ăn chay (ăn mặn đồng tội với sát sanh là tội cực ác) và phóng sanh (là cực thiện).

Hành trì suốt đời như vậy thì chắc chắn vãng sanh Cực Lạc quốc, đúng như lời đức Phật dạy: “Lánh ác (ăn chay), làm lành (phóng sanh), giữ tâm ý trong sạch (niệm Phật), tam nghiệp thanh tịnh đồng Phật vãng sanh Tây Phương”.

13. Hỏi: Con cũng muốn niệm Phật cho nhiều, ngặt nỗi loay hoay công việc nhà suốt ngày, nên không nhớ niệm Phật. Vậy con phải làm sao?

Đáp: Nên tập thành thói quen, niệm Phật năm, mười câu trước và sau trong những trường hợp sau:

Ba bữa ăn (sáng, trưa, chiều), khi tắm, đi vệ sinh, sau khi thức dậy, trước khi đi ngủ, trước khi ra khỏi nhà, sau khi về đến nhà, hay làm những việc gì có tánh cách cố định như rửa chén, quét nhà, giặt quần áo.

Chỉ cần tập một tuần lễ là quen, càng nhiều cho đến trở thành thói quen càng tốt. Tập thành “ghiền” niệm Phật càng quý.

14. Hỏi: Niệm Phật sao cho mau tiến bộ, thưa Thầy?

Đáp:

a. Cần phải lập định khóa niệm Phật hằng ngày.

Ở chùa hoàn cảnh thuận lợi hơn nên dễ lập định khóa. Quý vị là cư sĩ tại gia thì tùy hoàn cảnh sinh hoạt hằng ngày, tùy khả năng sức lực, khả năng hành trì mà lập định khóa thích ứng.

Định khóa không nên quá ít (uổng phí thời gian) cũng không nên quá nhiều (khi có, khi không).

Chư Tổ dạy: “Định khóa có tiến, nhất định không có thoái. Thà chết chớ không bỏ qua định khóa”. Lời dạy quý báu này, xin quý vị ghi nhớ cho!

Định khóa niệm Phật có ba phần: Tịnh tọa niệm Phật, Lễ bái niệm Phật và Kinh hành niệm Phật. Ba phần này, niệm Phật là chánh, tịnh tọa, lễ bái, kinh hành là phụ. Có nghĩa là danh hiệu Phật phải luôn luôn hiện tiền, không bị xen tạp, không bị gián đoạn.

b. Phải chuyên tu Chánh hạnh, Chánh định nghiệp, Lão thật niệm Phật (ý trì) hành trì đúng bốn yếu quyết đề cập ở câu đáp 6A.
15. Hỏi: Tịnh tọa niệm Phật như thế nào?

Đáp: Tịnh tọa niệm Phật: là ngồi mà niệm Phật.

Có nhiều cách ngồi:

– Toàn già (kiết già hay gọi là kim cang tọa): gác bàn chân trái lên đùi chân phải, gác bàn chân phải lên đùi bên trái, gót hai bàn chân đều phải sát vào bụng.

– Bán già, có hai cách:

* Hàng ma tọa: gác bàn chân phải lên đùi trái (như ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát).

* Kiết tường tọa: gác bàn chân trái lên đùi phải (như ngài Phổ Hiền Bồ tát). Tay: hai bàn tay để ngửa, bàn tay phải đặt lên trên bàn tay trái, vừa sát bụng, để nhẹ trên hai bàn chân, hai đầu ngón tay cái đâu lại (Tam muội Ấn).
Lưng, tay, chân đều đâu vào đó rồi, phải lay chuyển thân thể độ ba bốn lần cho được ung dung và phải giữ xương sống ngay thẳng, chẳng khác nào một cây cột đối với cái nhà. Nếu cột xiêu thì nhà đổ vậy.

Ngồi đúng cách giúp máu huyết lưu thông điều hòa, không bị tê nhức, thân yên chắc giúp tâm dễ an định.

Hành giả vì lý do bệnh tật, có thể ngồi trên ghế một cách bình thường vẫn được, vì rằng niệm Phật mới là chánh, còn ngồi là phụ.

Trong suốt thời gian tịnh tọa phải giữ câu Phật hiệu hiện tiền, nghĩa là niệm Phật không xen tạp, không gián đoạn. Niệm tốt nhất vẫn là ý trì và mặc trì.

16. Hỏi: Kinh hành niệm Phật như thế nào?

Đáp: Kinh hành phải đi theo chiều kim đồng hồ (từ phải sang trái). Kinh hành niệm Phật là vừa đi vừa niệm Phật. Niệm Phật là chánh, đi là phụ. Phải đi để thay đổi vị thế tránh mỏi mệt vì ngồi lâu, không phải đi diễn hành, tâm trụ nơi Phật hiệu chứ không phải trụ nơi bước chân.

Kinh hành thân quá động, tâm khó an định lắm, nên thời gian dành cho kinh hành ngắn nhất.

Suốt thời gian định khóa, bất luận là bao lâu, từ khi bắt đầu thắp nhang, đến khi kết thúc bằng ba tiếng chuông, phải niệm Phật không cho xen tạp và không gián đoạn, nghĩa là ngoài Thánh hiệu A Di Đà, không có bất cứ cái gì khác như định nghĩa trên.

17. Hỏi: Lễ bái trì danh như thế nào?

Đáp: Lễ bái niệm Phật cũng gọi là lễ bái trì danh. Lạy chậm rãi, khoan thai, đúng cách. Tốt nhất là lạy theo sự hướng dẫn của Pháp sư Đạo Chứng chỉ rõ trong sách “Niệm Phật chuyển hóa tế bào ung thư”.
“Lễ Phật một lạy tội diệt Hằng sa”. Lạy càng nhiều càng tốt, nhưng hành giả chuyên tu thì phải ưu tiên giữ câu Phật hiệu hằng hiện tiền (luôn luôn, không xen tạp, không gián đoạn). “Niệm Phật một câu phước sanh vô lượng”.

Tùy sức, không nên lạy một lần quá nhiều, sẽ bị mỏi mệt, dễ chán nản. Lạy vừa sức mình, nhiều lần trong ngày vẫn tốt hơn.

18. Hỏi: Con đi làm ở xí nghiệp về còn phải lo việc nhà, quá bận rộn nên con không có thì giờ để niệm Phật nhiều theo định khóa. Vậy con phải làm sao để được nhập tâm?

Đáp: Mục đích của định khóa là giúp cho hành giả tránh lười biếng, giải đãi, tinh tấn hành trì mau thành tựu chí nguyện. Trường hợp liên hữu quá bận rộn thì nên:

a. Áp dụng pháp “Thập niệm” và tập niệm Phật thành thói quen như đã nêu trên câu đáp số mười hai (12A) và mười ba (13A).

b. Thực hiện lời dạy của Hám Sơn đại sư: “Mỗi ngày đem một câu A Di Đà Phật đặt ngang ngực, niệm niệm chẳng quên, tâm tâm chẳng mê. Với hết thảy sự đời chẳng nghĩ ngợi gì đến. Chỉ lấy một câu Phật hiệu làm mạng sống chính mình. Cắn chặt hàm răng quyết chẳng buông bỏ, thậm chí ăn uống, cử động, đi, đứng, nằm, ngồi, một tiếng niệm Phật này, thời thời hiện tiền.[/list]Nếu gặp cảnh giới thuận, nghịch, vui, giận, phiền não, lúc tâm chẳng yên, bèn đem một tiếng niệm Phật khởi lên, liền thấy phiền não ngay khi ấy bị tiêu diệt. Bởi niệm niệm phiền não là gốc sanh tử. Nay dùng niệm Phật tiêu diệt phiền não, chính là Phật độ nỗi khổ sanh tử. Nếu niệm Phật tiêu được phiền não, liền có thể ra khỏi sanh tử, không có pháp gì khác. Nếu niệm Phật đến khi làm chủ được phiền não, thì làm chủ được mộng mị. Nếu trong mộng đã kiểm soát được, thì trong khi bệnh khổ cũng làm chủ được. Nếu đã làm chủ được (bản thân) trong khi bệnh tật, thì lúc mạng lâm chung, liền biết chỗ sanh về.

Sự này chẳng khó làm, chỉ cần làm với một niệm sanh tử, tâm khẩn thiết. Chỉ cần dựa vào một mình tiếng niệm Phật, không có suy nghĩ gì khác. Lâu ngày thuần thục, tự nhiên được đại an lạc, được đại thọ dụng”.

19. Hỏi: Con chưa nhập tâm, tham dự nhiều đạo tràng niệm Phật bốn chữ, sáu chữ, âm điệu khác nhau có gì trở ngại không?

Đáp: Trên kinh nghiệm thực tế mà nói, huân tập cách nào một cách chuyên nhứt sẽ dễ nhập tâm hơn (xin đọc câu đáp 6A).

20. Hỏi: Con để máy niệm Phật suốt đêm ở phòng ngủ, có tội không Thầy?

Đáp: Tinh tấn được vậy càng tốt, đáng khen, không tội lỗi gì cả.
Màn hình làm giấy.
Phím chữ làm bút.
Màu sắc làm mực.
Thường chép kinh Phật.

Hư không dầu có hao mòn,
Tâm này Phật Pháp vẫn còn sáng soi
21. Hỏi: Thường ngày vào định khóa niệm Phật rất hứng thú, nhưng thỉnh thoảng lại cảm thấy niệm Phật một cách lạt lẽo không vô, vậy là sao?

Đáp: Trường hợp này nên tự xét coi có phải do:

a. Bản tánh biếng nhác, giải đãi khởi dậy, vậy thì hãy cố gắng tinh tấn hơn.

b. Sinh lý (thân thể), quá mỏi mệt vì công việc hàng ngày, hoặc tâm lý (tinh thần) bất an, vì đang lo nghĩ, tính toán, lo sợ một việc gì đó. Vậy thì không nên ép xác, mà nghỉ xả hơi cho khỏe khoắn và thanh thản. Sau đó mới tiếp tục hành trì.
22. Hỏi: Con vừa giải phẫu, quì đứng không được, vậy con ngồi lễ Phật được không, thưa Thầy?

Đáp: Được, liên hữu ngồi trước bàn thờ Phật, đem hết lòng thành kính nhìn Phật, lễ Phật, nhớ giữ câu Phật hiệu luôn hiện tiền, không để bị gián đoạn.

23. Hỏi: Con vừa giải phẫu ngồi, quì, đứng không được, chỉ nằm thôi. Con nhớ Phật, con niệm Phật mà còn muốn lạy Phật nữa, vậy con phải làm sao, thưa Thầy?

Đáp: Xin có mấy điều như sau:

a. Tốt lắm, sức khoẻ liên hữu yếu như thế, mà liên hữu nhớ Phật, niệm Phật còn muốn lễ Phật, thật hiếm có, trăm ngàn người chưa có một. Đây là guơng tốt cho hàng Phật tử chúng ta. Tôi thành kính ngợi khen, tán thán đạo tâm của liên hữu, đồng thời nguyện cầu Đức Từ Phụ A Di Đà cùng chư Phật mười phương gia hộ cho liên hữu sớm hồi phục sức khỏe để tinh tấn niệm Phật, vãng sanh Cực Lạc, thành Phật, độ chúng sanh theo đúng chí nguyện.

b. Liên hữu có thể nằm, mắt nhìn Phật, đem hết lòng thành, tưởng như đang lễ Phật, là được rồi. Đó gọi là dùng tâm lễ Phật, nhớ giữ câu Phật hiệu luôn hiện tiền không bị gián đoạn.
24. Hỏi: Hôn trầm là gì, phải đối trị cách nào?

Đáp: Hôn trầm là tâm mờ mịt như buồn ngủ. Hôn trầm có hai loại:

a. Tâm thức tự nhiên lờ mờ, tuy còn biết niệm Phật, nhưng không sáng tỉnh, thỉnh thoảng đầu bị gục. Đây là loại hôn trầm do khí hỏa hư trong người thăng lên, lấn áp tinh thần.

b. Tâm có vẻ mỏi mệt, khởi niệm gượng gạo, thỉnh thoảng bị ngáp hơi, ngồi lâu muốn ngủ. Trạng thái này diễn biến càng lúc càng nhiều. Đây là loại hôn trầm do thiếu hăng hái và thiếu tinh tấn.
Đối trị: hãy thay đổi vị thế, phương cách, hoặc tốc độ như:

– Đang tịnh tọa thì đổi kinh hành hay lễ Phật (đổi vị thế).

– Đang niệm thầm thì đổi niệm ra tiếng (đổi phương cách).

– Đang niệm thầm hay niệm ra tiếng, nếu không muốn đổi vị thế, và phương cách thì gia tăng tốc độ (niệm nhanh hơn trước, đổi tốc độ).

Nam Mô A Di Đà Phật

25. Hỏi: Con vọng niệm quá nhiều làm sao diệt trừ, thưa Thầy?

Đáp: Vọng niệm do vọng tâm sanh, vọng tâm từ chân tâm biến hiện. Vậy muốn diệt vọng niệm là phải diệt chân tâm, mà chân tâm thường hằng bất biến, bất sanh bất diệt thì làm sao diệt được? Cho nên phải nói là chế phục, hay chuyển hóa mới đúng.

Liên tông Thập nhị Tổ dạy: “Chỉ có chư Phật mới vô niệm còn từ Đẳng giác Bồ tát trở xuống đều hữu niệm”. “Hữu niệm” nghĩa là còn vọng niệm, nhưng vọng niệm của quí Ngài vi tế. Phàm phu chúng mình thì vọng niệm thô, và minh xác rằng không một ai tránh khỏi (vọng niệm).

Liên tông Bát Tổ Liên Trì đại sư dạy: “Vọng niệm là bệnh, niệm Phật là thuốc”. Vậy muốn hết bệnh phải uống thuốc, muốn trừ vọng niệm phải niệm Phật.

Chư Tổ đều nói: “Niệm một câu Phật hiệu, dẹp trừ muôn vọng niệm”.

Chư cổ đức cũng dạy: “Chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”. Nghĩa là phàm phu chúng ta niệm khởi là chuyện dĩ nhiên (không một ai tránh khỏi như đã nói trên), thì có gì đâu mà phải lo sợ (không cần quan tâm đến nó nữa). Điều đáng lo sợ là chúng ta giác chậm (quên, không nhớ, không niệm Phật) mà thôi.

Tóm lại, vọng niệm tự khởi không gì đáng lo sợ (không quan tâm, để ý tới nó nữa), một mực niệm Phật là xong (vọng niệm tự dứt, vì tâm vô nhị dụng). Niệm Phật càng sâu (nhiều) vọng niệm tự thưa bớt dần. Niệm Phật đến Lý nhứt tâm bất loạn thì vọng niệm thô không còn khởi dậy được nữa.

26. Hỏi: Thầy nói vậy, nhưng ngay lúc miệng con đang niệm Phật, vọng niệm vẫn khởi dậy?

Đáp: Đây là bệnh chung của hành giả Tịnh độ. Miệng niệm Phật lâu ngày thành thói quen, miệng cứ niệm Phật (theo thói quen) mà tâm ý tự do rong ruổi đông tây, không có niệm Phật, nên vọng niệm mới khởi dậy.

Trường hợp này gọi là hữu khẩu vô tâm. Tổ Đức Nhuận nói: “Niệm Phật như vậy (hữu khẩu vô tâm) thét cho bể cuống họng cũng vô ích”. Bởi vậy cho nên lắm người niệm Phật đến nay đã mấy chục năm rồi mà vẫn trơ trơ, không thấy có lợi ích gì cả, đôi khi còn tăng thêm phiền não. Hoà thượng Trí Tịnh dạy: “Niệm Phật phải niệm rành rẽ, rõ ràng. Rành rẽ tức là từng tiếng, từng câu không có lộn lạo. Rõ ràng nghĩa là hễ niệm Nam là rõ tiếng Nam, Mô rõ tiếng Mô, A rõ tiếng A, cho đến Phật thì rõ tiếng Phật không có trại giọng (không thêm, không bớt dấu sắc, dấu huyền gì cả). Tiếng niệm Phật cùng với cái tâm của mình phải hiệp khắn nhau”.

Nghĩa là cái tâm phải duyên theo tiếng, cái tiếng phải nằm trong cái tâm. Tâm tiếng phải là một. Hay nói tiếng ở đâu tâm phải ở đó. Tiếng niệm Phật, tâm phải ở câu Phật hiệu. Được vậy khi niệm Phật nhất định không có vọng niệm. Vì tâm vô nhị dụng (tâm một lúc không thể làm hai việc). Tâm đang niệm Phật thì đâu có thể niệm gì khác.

27. Hỏi: Con đã thực hành như vậy mà vọng niệm vẫn khởi lên liên tục, con cố gắng lắm nhưng đè nó không được. Vậy phải làm sao, thưa Thầy?

Đáp: Chư Tổ cũng dạy: “vọng niệm là nghiệp”. Vậy liên hữu cần thực hành hai phương cách sau:

a. Hằng ngày thường lễ Phật A Di Đà (Di Đà sám) để sám trừ nghiệp chướng.

b. Thực hành pháp “Sổ châu trì danh”. Phương pháp này còn gọi là lần chuỗi niệm Phật. Tay lần một hạt chuỗi, miệng niệm một câu danh hiệu Phật. Sau quen rồi, miệng niệm hai, ba câu tăng dần lên cho đến mười câu lần một hạt chuỗi. Cách này giúp cột tâm ý vào hạt chuỗi, tâm ý lo nhớ lần chuỗi, nên không khởi vọng niệm. Cách này cần ghi số mỗi thời, mỗi ngày bao nhiêu câu. Lấy con số này làm định mức để mỗi thời, mỗi ngày phải cố gắng niệm cho đủ định số, tránh được bệnh lười biếng giải đãi. Nhưng cần nhớ rằng, đừng vì muốn đủ số mà hấp tấp vội vàng, niệm lấy có, niệm cho đủ số, mà cần phải niệm rành rẽ, rõ ràng như đã nói trước đây. Người xưa nói: “Đa hư bất như thiểu thật”, nghĩa là nhiều mà hư rỗng, không bằng ít mà chắc thật. Cách này được Liên tông Cửu Tổ Ngẫu Ích đại sư tán thán là hiệu quả cao, nếu niệm đúng cách, đúng mức, cùng cực sẽ được “nhập tâm”.
28. Hỏi: Con lần chuỗi niệm Phật cả chục năm rồi, thế mà vọng niệm vẫn tuôn trào không dứt, là sao thưa Thầy?

Đáp: Vì không khéo nhiếp tâm, miệng niệm Phật, tay lần chuỗi lâu ngày thành thói quen, không cần dụng ý nữa, nên ý tự do phóng túng, rong ruổi đông tây. Vọng niệm thừa cơ hội này khởi dậy.

Vậy, nên hành pháp “Thập niệm ký số”, pháp này giúp nhiếp tâm cao hơn. Liên tông Thập tam Tổ Ấn Quang đại sư đã dạy trong quyển Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục như sau: “Niệm từng câu, đếm số từng câu từ một đến mười. Xong, đếm lại từ một…”. Ví dụ: A Di Đà Phật một, A Di Đà Phật hai, A Di Đà Phật ba…(đếm đến mười rồi trở lại đếm một, hai, ba…). Trường hợp đếm nửa chừng bị lầm lẫn số, nếu chưa đến mười thì bỏ, khởi đếm lại từ đầu.

29. Hỏi: Con thực hành pháp Thập niệm ký số, ban đầu có kết quả tốt, thời gian sau vọng niệm vẫn dậy khởi, nhưng ít hơn trước. Vậy là sao thưa Thầy?

Đáp: Ban đầu liên hữu chú ý, cột tâm ý vào danh hiệu Phật và cố nhớ để đếm không cho lộn số. Được vậy, vọng niệm không khởi lên được (Tâm vô nhị dụng). Nhưng khi tập lâu thành thói quen (tập khí) miệng tự động niệm và đếm số, không cần chú tâm, tâm lại rong ruổi, khởi vọng niệm nữa. Còn có cách thứ hai, đếm số từ một đến mười rồi đếm ngược lại từ mười đến một. Đếm nửa chừng lộn số thì phải bỏ, đếm lại từ đầu.

30. Hỏi: Hành pháp Thập niệm ký số, đếm xuôi rồi đếm ngược nói trên có kết quả tốt, nhưng thời gian sau vọng niệm vẫn dậy khởi là sao, thưa Thầy?

Đáp: Vì ban đầu nhiếp tâm được nên không vọng niệm. Sau thành thói quen (tập khí) như nói lần trước, miệng tự động niệm và đếm số xuôi ngược, không cần chú tâm nữa, nên tâm rong ruổi khắp nơi, vọng niệm dậy khởi. Có cách thứ ba: mở máy niệm Phật, nhịp độ vừa phải không quá chậm, lắng lòng nghe và niệm theo từng chữ, từng câu, một cách rành rẽ, rõ ràng, sẽ dứt bặt vọng niệm.
Màn hình làm giấy.
Phím chữ làm bút.
Màu sắc làm mực.
Thường chép kinh Phật.

Hư không dầu có hao mòn,
Tâm này Phật Pháp vẫn còn sáng soi
31. Hỏi: Cách thứ ba rất tốt nhưng rất tiếc là chỉ niệm được chừng bốn mươi phút hoặc sáu mươi phút là mỏi mệt. Khi đó niệm theo không nổi thì vọng niệm lại tái khởi dậy. Vậy con phải làm sao, thưa Thầy?

Đáp: Có cách thứ tư, tự làm hay nhờ bạn làm giúp, hoặc tôi sẽ làm cho một CD thường hoặc CD-MP3 giọng niệm của liên hữu. Niệm một câu ngưng một chút, niệm câu thứ hai ngưng một chút, tiếp niệm câu thứ ba… nghĩa là niệm không liên tục có gián đoạn. Mở máy, bình tĩnh, lắng lòng nghe máy niệm. Máy ngưng niệm, mình niệm, khi máy niệm mình lắng lòng nghe. Luân phiên niệm như vậy mình đủ sức niệm hai, ba, bốn, năm giờ liên tục mà không mệt mỏi.

Ban đầu máy niệm một câu, mình niệm một câu, sau quen dần, máy niệm một câu, mình niệm hai, ba câu. Tập niệm từ thấp lên cao dần dần như sau: ban đầu mình niệm lớn tiếng (cao thanh trì), khi quen, chuyển niệm nhỏ tiếng (đê thanh trì), khá quen chuyển niệm thầm có nhép môi (kim cang trì), xong tiến lên niệm thầm không nhép môi (mặc trì), cuối cùng tiến đến niệm bằng ý (ý trì).

Nên viết lớn, đậm nét bốn chữ A Di Đà Phật (hoặc sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật) trên tờ giấy như sau:

A
DI
ĐÀ
PHẬT

Để Thánh hiệu này trước mặt (vừa tầm mắt), mắt nhìn bốn chữ A Di Đà Phật trong suốt thời gian nghe máy niệm và mình niệm, mục đích là nhiếp nhãn căn (nhìn thánh hiệu để không nhìn cái gì khác, đơn giản vậy thôi). Không cần phải tập trung tư tưởng để chú ý quán sát bốn chữ này (nếu chú ý quan sát là lạc vào quán tưởng rồi).

Lưu ý: Tiếng máy niệm và tiếng mình niệm phải liên tục như giòng nước chảy, không có kẽ hở (vì có kẽ hở thì vọng niệm sẽ dậy khởi).

Không bắt buộc phải ngồi trước bàn thờ Phật, phải ngồi kiết già hay bán già, mà nên ngồi thoải mái trên ghế, để có thể ngồi năm giờ liền không mệt mỏi.

Mặt khác, ban đêm ngủ, hoặc đang làm việc gì khác, (ngoài thời khóa) nên để máy niệm Phật suốt thời gian. Trường hợp này tiếng niệm Phật (của máy) phải liên tục, không gián đoạn.

Thực hiện được như vậy, thân, khẩu, ý niệm Phật năm giờ liên tục mà không có vọng niệm, là đắc “chỉ” của Thiền, là đắc “tịnh” của Tịnh Độ, huân tập nhiều lần như vậy, thì làm sao mà không nhập tâm được chứ?

Tám vị nhập Phật thất tại tu viện Tịnh Luật áp dụng cách niệm Phật này mà được nhập tâm trong vòng bảy ngày hành trì (nêu trong câu đáp 6A).
Cách niệm Phật theo máy.

Hát CD niệm Phật có gián đoạn và thực tập như sau:

a. Bình tĩnh, lắng lòng nghe máy hát (niệm) một câu, máy ngưng, mình niệm một câu; máy hát câu kế tiếp, máy ngưng, mình niệm một câu nữa. Máy và mình luân phiên niệm như vậy thời gian ngắn vài ba phút hay dài hơn tùy người.

b. Khi niệm như vậy quen rồi, thì khi nghe máy hát (niệm) đến chữ Đà thì mình bắt đầu niệm A Di Đà Phật. Như vậy để khi máy hát chữ Phật là mình đã niệm chữ A, mục đích là hai chữ Phật và chữ A nối liền nhau không có kẽ hở.

c. Mình niệm sao cho chữ Phật của mình cũng nối liền với chữ A của máy, nghĩa là cũng không có kẽ hở.

Chú ý: khi niệm quen rồi, mình linh động niệm ngắn hơn hay dài hơn bình thường một chút để câu Phật hiệu mà mình niệm không có kẽ hở đầu và cuối câu.

d. Các câu Niệm Phật của mình và máy nối liền nhau không có kẽ hở thì vọng niệm không khởi dậy được (Tâm vô nhị dụng nghĩa là Tâm một lúc không thể làm hai việc. Tâm bận niệm Phật thì tuyệt đối không có niệm gì khác, không có vọng niệm). Nhờ vậy nên có thể niệm năm giờ liên tục, mà không có một vọng niệm nào cả. Đây là yếu tố đưa đến Nhập tâm.

e. Khi máy và mình niệm Phật, lỗ tai lắng nghe, miệng niệm hoặc ý niệm (ý trì), ý theo dõi tiếng niệm này. Đây là nhiếp nhĩ căn, thiệt căn và ý căn.

f. Khi máy niệm và mình niệm, mắt nhìn vào bốn chữ A Di Đà Phật để trước mặt, đây là nhiếp nhãn căn vào Phật hiệu. (Nhớ là nhìn chứ không phải quán).

g. Thân ngồi ngay ngắn chỉnh tề đây là nhiếp thân căn vào cảnh giới Phật.

h. Mũi ngữi mùi hương cúng Phật đây là nhiếp tỷ căn vào cảnh giới Phật.

i. Thực hiện được như vậy là đã nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp, theo đúng lời chỉ dạy trong Kinh Lăng Nghiêm, thì làm sao mà không nhập tâm được chứ?

j. Hành giả nên đọc kỹ, cố gắng tập sẽ quen dần, có gì không rõ hãy điện thoại cho tôi, để được góp ý thêm.

Quyết định phải thành tựu Tịnh nghiệp,
Vãng sanh Cực Lạc,
Thành Phật, Độ chúng sanh.

32. Hỏi: Thỉnh thoảng con bị như sau: Trong lúc đang ngồi niệm Phật, miệng niệm, tai nghe, ý ghi nhận rành rẽ, rõ ràng từng chữ từng câu Phật hiệu, tâm con rất sáng suốt. Bỗng dưng tâm con sinh khởi các ý tưỏng vọng động song hành với câu Phật hiệu. Sao kỳ lạ vậy, có hại không, thưa Thầy?

Đáp: Thông thường khi vọng tưởng, tạp niệm dậy khởi thì câu Phật hiệu bị mất. Đó gọi là tán loạn (bệnh). Đằng này cả hai song hành, đó gọi là sức phản ứng của chủng tử nghiệp, chứ không phải bệnh. Nguyên nhân như sau: Theo Duy thức học, trong tạng thức chứa lẫn lộn những chủng tử lành (vô lậu), dữ (hữu lậu). Khi niệm Phật là ta huân tập chủng tử công đức vô lậu, nó chuyển hoá những chủng tử hữu lậu, khiến những chủng tử này phản ứng, khởi hiện hành. Hiện hành huân tập chủng tử, chủng tử khởi hiện hành (mà mình không quan tâm đến nó) mỗi lần yếu đi một ít, nhiều lần chúng bị tiêu mất luôn.

Tóm lại, hiện tượng này chứng tỏ liên hữu công phu đắc lực, đáng mừng, có lợi chứ không hại gì cả.

33. Hỏi: Phan duyên là gì, đối trị cách nào?

Đáp: Phan duyên là thói quen, tâm ưa rong ruổi bên ngoài. Đây cũng là một loại động loạn, nhưng có điều nó lặng lẽ, như khi ngồi niệm Phật mà tai lại lắng nghe tiếng người ngoài nói chuyện hoặc mắt theo dõi cảnh vật xung quanh… tức là năm căn duyên theo năm trần cảnh. Đây là nguyên nhân làm công phu bị gián đoạn và mất chánh niệm. Hành giả không biết, tưởng mình không vọng niệm rồi không lo đoạn trừ, lâu ngày thành thói quen nặng, ngồi niệm Phật mà chỉ huân tập vào tâm những chuyện vô ích bên ngoài. Người này tu nhiều mà tâm không định.

Đối trị: Khi niệm Phật, có thấy hoặc nghe gì, thì làm ngơ như mù, như điếc, xả bỏ mọi cảnh trần, tập trung tâm ý (nhiếp các căn), miệng niệm, tai nghe, ý ghi nhận rành rẽ, rõ ràng từng chữ, từng câu Phật hiệu (phản văn trì danh).

Không Có Thành Tựu Nào Mà Thiếu Tinh Tấn.

34. Hỏi: Vô ký là gì, đối trị cách nào?

Đáp: Vô ký là thái cực đối lập với phan duyên, tức là tâm thức biến mất, hành giả ngồi niệm Phật đến một lúc tự nhiên không nhận biết gì cả, quên niệm Phật, như người chết. Trạng thái này có khi trải qua hàng giờ. Nếu không biết, lại cho là được định tâm, đắm thích theo nó, khiến uổng phí thì giờ, vì chỉ gieo trồng chủng tử gỗ đá vô tri mà thôi.

Đối trị: Tập trung tâm ý, niệm thầm danh hiệu Phật bằng kim cang trì, mặc trì hoặc ý trì (ý trì là hiệu quả nhất). Vì ý thức bị chìm mất, bây giờ bắt ý thức phải làm việc (niệm Phật) và kiểm soát nó, đương nhiên nó phải hiện tiền (không chìm mất).

35. Hỏi: Kim cang trì và mặc trì là sao, thưa Thầy?

Đáp: Niệm Phật ra tiếng lớn gọi là cao thanh trì, niệm ra tiếng nhỏ là đê thanh trì. Kim cang trì là niệm thầm (không ra tiếng) mà còn nhép môi. Mặc trì là niệm thầm hoàn toàn không nhép môi. Bốn cách này cao thanh trì, đê thanh trì, kim cang trì, mặc trì đều niệm bằng miệng, gọi là khẩu trì. Hiệu quả của khẩu trì không cao bằng ý trì.

36. Hỏi: Tại sao ý trì hiệu quả cao?

Đáp: Ý trì là niệm bằng ý, không phải bằng miệng (khẩu trì). Dùng ý để niệm Phật (không phảỉ nghĩ, tưởng hay biết, mà là niệm).

Lý do ý trì mang hiệu quả cao:

– Chư Tổ dạy: “Tâm vô nhị dụng”, nghĩa là tâm không thể làm hai việc cùng một lúc. Khi tâm lo nghĩ một việc nào khác, thì tâm không thể niệm Phật được.

– Kinh Pháp Cú dạy: “Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm là chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm ô nhiễm tạo nghiệp nói năng hoặc hành động, sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến, như bánh xe lăn theo chân con vật kéo xe. Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm là chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm thanh tịnh tạo nghiệp nói năng hoặc hành động, sự vui sẽ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình”.

– Theo Duy Thức học: “Ý thức công vi thủ, tội vi khôi”, nghĩa là về công, ý thức đứng đầu, về tội thì ý thức cũng đứng đầu. Làm ác do ý thức, làm thiện cũng do ý thức. Thí dụ: Ý thức muốn đánh, muốn đá thì tay mới đánh, chân mới đá. Ý thức muốn chửi mắng, miệng mới chửi mắng,… Sa địa ngục cũng do ý thức lôi kéo vào. Vãng sanh Cực Lạc cũng do ý thức đưa đẩy. Làm ma hay làm Phật đều do ý thức.

Bằng những lý lẽ trên. Với ý trì, ta bắt ý thức phải niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc để thành Phật, thật đúng là diệu pháp. Khi ý thức niệm Phật, như đã nói ở trên, thì ý thức không còn làm được việc gì khác, dứt vọng niệm, dừng vọng tưởng, mà câu Phật hiệu luôn hiện tiền.

Trong suốt thời gian ý trì, không có vọng niệm, vọng tưởng, đúng là pháp tu chỉ của Thiền tông. Lại lắng nghe rành rẽ, rõ ràng danh hiệu Phật, đó là pháp tu quán của Thiền tông. Như vậy ý trì không khác chỉ quán song tu của Thiền.

Nói rộng hơn, niệm Phật bằng ý để chuyển ý thức thành Diệu quan sát trí, sau đó chuyển Mạt na thức thành Bình đẳng tánh trí, đó là điều kiện thiết yếu để phá ngã chấp, pháp chấp, hầu trở về với chân tâm thanh tịnh bình đẳng của chính mình.

37. Hỏi: Cách tập ý trì như thế nào?

Đáp: Tập ý trì có hai cách:

a. Cách thứ nhất:

– Bước 1: Dùng máy (cassette hay chip) hát niệm Phật A Di Đà (6 chữ hay 4 chữ tùy ý thích). Hành giả tịnh tọa, lắng lòng nghe (bằng nhĩ căn tức lỗ tai), dùng ý thức nghĩ, ghi nhận, đưa vào tâm từng chữ, từng câu rành rẽ, rõ ràng theo đúng nhịp điệu hát của máy. Đừng để bị xen tạp và gián đoạn.

Thực tập vài tiếng đồng hồ hoặc vài ba ngày, tự nhiên thuần thục.

Nên nhớ: Khi tập cách này phải xả, bỏ quên, không quan tâm đến cách niệm trước đây.

Cách này quá dễ, ai ai cũng thực hành được, nhưng có khuyết điểm là tâm còn phan duyên theo tiếng bên ngoài, gọi là hướng ngoại.

– Bước 2: Không dùng máy nữa, mà dùng bốn hay sáu ngón tay để nhịp. Hành giả tịnh tọa, lắng lòng, dùng ngón tay nhịp, dùng ý thức để nghĩ, niệm từng chữ một cách rành rẽ, rõ ràng, theo từng nhịp của ngón tay.

Thực tập vài tiếng đồng hồ hoặc vài ba ngày, tự nhiên thuần thục.

– Bước 3: Không dùng máy và ngón tay.

Hành giả tịnh tọa, lắng lòng, tự nghĩ và tự niệm rành rẽ, rõ ràng từng chữ, từng câu thánh hiệu A Di Đà. (Có thể chậm, niệm ít câu hơn mình đã niệm trước đây, không thành vấn đề, luyện tập thuần thục sẽ nhanh và nhiều câu hơn trước nhiều, mà khỏe khoắn không mệt như trước nữa).

Lúc đầu biết tâm mình đang niệm Phật A Di Đà, chứ chưa nghe tiếng. Quen dần, thuần thục sẽ nghe rành rẽ, rõ ràng, từng tiếng (từng chữ), từng câu thánh hiệu A Di Đà. Cách này là nghe bằng tánh nghe (không phải bằng nhĩ căn, tức lỗ tai, nhĩ thức). Tình trạng này gọi là “Phản văn, văn Phật hiệu”.

Người (sơ cơ) mới thực hành ý trì, chỉ năm hoặc mười phút là mệt, niệm không được nữa. Lúc đó có thể thay đổi niệm bằng miệng (Kim cang trì hay mặc trì, là niệm thầm, hay niệm ra tiếng) thời gian ngắn (5, 10 phút) rồi lại tiếp tục niệm bằng ý (ý trì) luân phiên thay đổi như thế nhiều lần, lâu ngày ý trì sẽ thuần thục (hoàn toàn niệm bằng ý).

b. Cách thứ hai:

– Bước 1: Viết bốn chữ hay sáu chữ thánh hiệu A Di Đà lên bảng hay lên giấy. Kinh nghiệm cho thấy viết chữ thành một hàng ngang khó tập hơn viết từng chữ theo hàng dọc đứng như sau:

A
DI
ĐÀ
PHẬT

(1) Hoặc hành giả tịnh tọa, lắng lòng, mắt nhìn thánh hiệu A Di Đà Phật (4 hay 6 chữ) thay vì đọc bằng miệng thì nghĩ, đọc bằng ý (ý thức).

(2) Hoặc mở máy cassette hát bốn chữ, tai nghe từng tiếng, mắt nhìn từng chữ, đồng thời ý niệm theo nhịp nhàng từng tiếng, từng chữ thánh hiệu A Di Đà.

Thực tập vài tiếng đồng hồ hoặc vài ba ngày tự nhiên thuần thục.

– Bước 2: Không dùng máy để nghe, mắt không nhìn bảng hay giấy có viết thánh hiệu A Di Đà nữa, mà hành giả tịnh tọa, lắng lòng, tự nghĩ và tự niệm y như bước ba, cách thứ nhất.

Thực tập vài tiếng đồng hồ hoặc vài ba ngày tự nhiên thuần thục.

Nói rõ hơn, khi dùng ý nghĩ từng tiếng, từng chữ, từng câu Thánh hiệu A Di Đà Phật, là gieo (huân tập) hạt giống (chủng tử) Phật vào tạng thức. Huân trưởng lâu ngày chày tháng, hạt giống vô lậu sẽ lớn mạnh dần dần, và khởi hiện hành qua nhiều trạng thái, từ thấp đến cao như sau:

– Giúp ta nhớ niệm Phật nhiều hơn.

– Giúp ta nghe thành tiếng (bằng tánh nghe).

– Thay vì ý thức mà tạng thức tự niệm (nhập tâm).

Ưu điểm của cách này là: không hao hơi, tổn khí, đúng như pháp, dứt trừ được vọng niệm, vọng tưởng, mau nhập tâm, đạt Bất niệm tự niệm. Nhưng khuyết điểm là khó thực hiện.
Kinh nghiệm cho thấy, khi thực sự buông xả được vạn duyên, thì:

(1) Nếu hành giả ý trì được sáu mươi phút liên tục không gián đoạn, (suốt thời gian này tuyệt đối không có vọng niệm) mỗi ngày hai lần, một tuần lễ sau là hoàn toàn có khả năng sẽ được nhập tâm.

(2) Nếu hành giả ý trì được năm giờ liên tục không xen tạp không gián đoạn (không có vọng niệm) mỗi ngày hai lần, thì hai ngày nhập tâm.

(3) Đã có nhiều hành giả tại gia và xuất gia về Tịnh Luật tu viện, nhập thất từ hai đến bốn ngày liền “nhập tâm”.

Bởi vậy nên nói: “Nhập tâm không khó, khó ở Quyết tâm”.

Quyết tâm điều gì? Quyết tâm buông xả được vạn duyên và niệm Phật đúng cách, niệm không xen tạp, không gián đoạn thời gian dài, đơn giản thế thôi, kính xin quý hành giả luôn ghi nhớ (nằm lòng) bí quyết này.

38. Hỏi: Sao con ý trì mà bị nhức đầu và đau quai hàm quá, thưa Thầy?

Đáp: Niệm Phật mà bị đau xương quai hàm thì rõ ràng là niệm bằng miệng (khẩu trì) đâu phải ý trì. Ý trì là niệm bằng ý. Niệm Phật bị nhức đầu vì đã trụ danh hiệu Phật ở đầu. Theo cơ thể học, trụ ở đâu là máu tụ hội về đó, tụ hội nhiều quá sinh ra nhức đầu. Bởi vậy hành giả niệm Phật không được trụ bất cứ nơi nào trên cơ thể.

39. Hỏi: Ý trì có thể nhịp ngón tay hoặc lần chuỗi được không, thưa Thầy?

Đáp: Mới tập khi còn yếu thì được, tập quen rồi nên bỏ đi, vì nhịp tay hay lần chuỗi thì:

a. Thân động, tâm sẽ động theo.

b. Khi chú ý để nhịp tay hay lần chuỗi thì bị phân tâm.
Hai điều này gây khó nhất tâm.

40. Hỏi: Xin thầy nói rõ hơn sự phân biệt giữa ba cách trì danh: kim cang trì, mặc trì và ý trì, và sự lợi ích của ý trì.

Đáp:

– Kim cang trì và mặc trì đều là niệm thầm bằng miệng (không ra tiếng), còn gọi là khẩu trì. Nhưng kim cang trì còn nhép môi, còn mặc trì thì không nhép môi.

– Ý trì cũng là niệm thầm (không ra tiếng), nhưng niệm bằng ý (không phải niệm bằng miệng như kim cang trì hay mặc trì). Ý trì ban đầu còn yếu không nghe tiếng, sau lớn mạnh thì có tiếng. Lúc bấy giờ ta nghe tiếng không phải nghe bằng lỗ tai, (nhĩ căn, nhĩ thức), mà nghe bằng tánh nghe (thường gọi là tánh trong căn).

Trong Tuyết Hư Lão Nhân Tịnh Độ Tuyển Tập, Ngài Lý Bỉnh Nam nói: “Ý trì vẫn có tiếng”. (Xin đọc kỹ phần IV – Cách trì danh trong sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh).

– Lợi ích của ý trì như sau:

a. Trong suốt thời gian ý trì, nhất định không có vọng niệm, vọng tưởng. Vì ý bận niệm Phật làm sao có niệm gì khác được (tâm vô nhị dụng, nghĩa là tâm một lúc không thể làm hai việc). Đó là pháp tu chỉ của Thiền tông. Lắng lòng nghe rành rẽ, rõ ràng danh hiệu Phật là tu quán rồi. Ý trì là Chỉ Quán song tu của Thiền. Do vậy, Kinh Đại Tập dạy: “Pháp môn Tịnh độ (niệm Phật) là vô thượng thâm diệu Thiền”, là Thiền thâm sâu, vi diệu, cao nhất.

b. Ý căn và nhĩ căn xoay vào trong (hướng nội) để niệm Phật và nghe danh hiệu Phật, không để chúng rong ruổi (hướng ngoại) theo ngũ dục lục trần. Được vậy là ta đã nhiếp được hai căn chủ tể nhạy bén nhất của sáu căn. Sáu căn dung thông nhau, hễ viên thông được một là dung nhiếp cả sáu (nhất tu nhất thiết tu, thành tựu một là thành tựu tất cả).
Quán Thế Âm Bồ tát chỉ tu nhĩ căn được viên thông mà thành tựu quả vị Đẳng giác Bồ tát. Hành giả ý trì (niệm Phật bằng ý) là thực hành đúng phương cách trong Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp, đắc Tam ma địa (tức đắc định, được Nhất tâm bất loạn) bậc nhất”, “Bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai”, chẳng cần phương tiện gì khác tự được khai tâm (khai mở trí tuệ).
Màn hình làm giấy.
Phím chữ làm bút.
Màu sắc làm mực.
Thường chép kinh Phật.

Hư không dầu có hao mòn,
Tâm này Phật Pháp vẫn còn sáng soi
41. Hỏi: Ý trì có phải trụ tâm ở đâu không? Có nhiều Thầy dạy trụ ở nhiều nơi khác nhau trên thân, hoặc trên hình tượng Phật. Kính xin Thầy minh xác việc này.

Đáp:

(1) Không trụ mà trụ, trụ mà không trụ, như sau:

a. Kinh Kim Cang dạy: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nghĩa là không trụ vào đâu cả mà sanh tâm (làm các việc). Kinh Bát Nhã dạy: ‘Chiếu kiến ngũ uẩn giai không…’, nghĩa là thấy năm uẩn đều không, đã là không thì lấy gì, lấy chỗ nào để mà trụ (không trụ)? Hành giả dùng ý niệm Phật một cách nghiêm túc (không đùa giỡn), bình thường (không vội vã, hấp tấp), thanh thản (không mong cầu), nhàn nhã (buông xả vạn duyên, không bận rộn dính mắc gì cả, tâm không, tâm vô sự). Đó là không trụ (vô trụ).

Còn “trụ” là sao? Dùng ý niệm Phật tức là cột ý vào danh hiệu Phật, có nghĩa là trụ trên danh hiệu Phật.

Hai ý trên là nghĩa câu thứ nhất “Không trụ mà trụ”.

b. Trụ mà không chấp tướng, không trở ngại đường tu, trái lại đem lại nhiều lợi ích, là hoà nhập ý (tâm) với danh hiệu Phật làm một. Theo Kinh Niệm Phật Ba La Mật danh hiệu Phật là biểu tượng Pháp thân Phật, đúng như Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy: “Tâm làm Phật, tâm là Phật”, Tông Cảnh Lục cũng nói: “Nhất niệm tương ưng, nhất niệm Phật”. Trong Kinh A Di Đà Yếu Giải Liên tông Cửu Tổ Ngẫu Ích đại sư cũng nói: “Ngay khi niệm Phật mình đã là Phật rồi”.

Đây là nghĩa câu thứ hai “Trụ mà không trụ”.
(2) Trụ nhiều nơi khác nhau trên thân.

a. Theo cơ thể học, tập trung ý nghĩ (trụ) ở đâu, máu sẽ tụ hội về nơi đó. Nếu trụ ở đầu thì dễ bị nhức đầu (lên máu).

b. Ý đang niệm Phật, lại phải nghĩ trụ ở nhiều nơi nhất định nào đó, sẽ bị phân tâm, làm sao tiến tới nhất tâm được? Bởi vậy chư Tổ dạy rằng niệm Phật phải chuyên tâm nhất ý, là vậy.

c. Minh Tuệ tôi chưa thấy Kinh Phật hay chư Tổ nào dạy như vậy. Thành thật mà nói là tôi không rõ việc này.
(3) Nếu đặt danh hiệu Phật ở nhiều nơi trên hình tượng Phật, rồi tưởng tượng danh hiệu ấy nổi lên mà niệm, thiết nghĩ đây là pháp quán tưởng trì danh. Minh Tuệ hành trì pháp nhiếp tâm trì danh, không có kinh nghiệm về pháp quán tưởng, nên xin phép không có ý kiến.

42. Hỏi: Biết rằng ý trì hiệu quả cao, nhưng khó tập quá, con tập lâu thường bị nhức đầu. Vậy phải làm sao để được nhập tâm?

Đáp: Liên hữu niệm Phật mà tập trung tư tưởng nhiều quá (cố trụ danh hiệu Phật ở đầu, máu dồn lên đầu cũng gọi là hỏa xông, hay động não). Tập trung quá mức như vậy, không riêng gì ý trì, mà khẩu trì (niệm bằng miệng) vẫn bị nhức đầu. Bởi vậy chư Tổ, quý Thầy có dạy: “Niệm Phật không trụ vào đâu cả”, vô trụ, trụ ở đầu sẽ nhức đầu, trụ ở nhịp đập của tim thì bị nhức tim. Niệm một cách bình thường (không ép sức, không quá nhanh, vừa sức mình thôi), nghiêm túc (cung kính, không phải đùa giỡn), thanh thản (không mong cầu, vì mong cầu tức là vọng tưởng, tạp niệm), rành rẽ, rõ ràng (không lộn lạo, không trại giọng, nếu không thì khi nhập tâm nó sẽ bị lộn lạo như: Đà Phật A Di mà đựợc đề cập trong sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh).

Nếu với căn tánh của mình, liên hữu thực hành ý trì không nổi, thì áp dụng pháp mặc trì hay kim cang trì vẫn được nhập tâm, nhưng hơi lâu hơn mà thôi.

43. Hỏi: Thầy nói niệm Phật trụ ở nhịp đập của tim sẽ bị đau tim. Xin hỏi vì sao?

Đáp: Thực tế trường hợp này đã xảy ra rồi. Có liên hữu nọ thường ngày (huân tập) nương vào nhịp đập của tim (thay thế xâu chuỗi) mà niệm Phật. Hiệu quả rất tốt là không có vọng niệm, vì ý thức bận theo dõi (cột vào) nhịp đập của tim để niệm Phật, nghĩa là nhiếp cả ba: ý thức, nhịp đập của tim, danh hiệu Phật làm một. Tâm một lúc không thể làm hai việc, ở đây nhiếp ý vào nhịp đập của tim và danh hiệu Phật thì tạp niệm làm sao khởi dậy được, quá đúng lý (logic)! Tập lâu ngày (huân tập) thành thói quen, vị ấy nương vào nhịp đập của tim khởi câu Phật hiệu. Nhịp đập của tim hoạt động đều đặn, thường xuyên 24/24, do vậy công phu đắc lực hơn, rất tốt ở giai đoạn này.

Như trên đã nói, hành giả nương (trụ) vào nhịp đập của tim để niệm Phật. Bình thường tim đập 80 lần/phút thì niệm 80 câu Phật hiệu. Tiếng tim đập và tiếng Phật hiệu đồng hành nhịp nhàng như thế thành thói quen. Khi nhập tâm, tự nhiên tiếng Phật hiệu tăng từ 100 đến 120 lần/phút, nó kéo tim cũng phải đập theo. Vì thói quen nhịp tim đồng hành với niệm, từ 100 đến 120 lần/ phút, bắt tim làm việc quá sức, dẫn đến đau tim (triệu chứng ban đầu là nhức nơi tim). Đây là thực tế có người đã bị rồi. Từ đây suy ra, không nên nương vào hơi thở để niệm Phật (Tùy tức trì danh). Chưa nói khi nhập Bất niệm tự niệm sâu, tốc độ niệm Phật gia tăng càng nhiều hơn. Do vậy, nên nói niệm Phật không nên trụ bất cứ nơi nào trên cơ thể (vô trụ), như tôi đã trình bày ở phần trên.

44. Hỏi: Liên hữu ấy đã bị bệnh tim như vậy, phải chữa trị thế nào?

Đáp: Với bệnh này, nhập viện Tây y tìm không ra nguyên nhân, bác sĩ chỉ cho uống thuốc hạ nhịp đập của tim. Đây là cách trị ngọn, làm sao dứt bệnh được? Uống thuốc hạ nhịp đập của tim lâu ngày quen thuốc và gây nhiều phản ứng phụ, rất nguy hiểm. Còn Bất niệm tự niệm, tôi đã trực tiếp hỏi bác sĩ, việc đó là sao? Nguyên nhân như thế nào? Bác sĩ không trả lời được, vậy thì làm sao tìm biết được nguyên nhân bệnh tim nói trên?

Cách chữa trị như sau:

(1) Tách rời tiếng Phật hiệu khỏi nhịp đập của tim bằng cách không quan tâm để ý nghe tiếng nhịp đập của tim nữa (thả lỏng để nó tự đập). Miệng niệm Phật ra tiếng càng lớn càng tốt, tai lắng nghe, tâm ghi nhận danh hiệu Phật (miệng, tai và tâm đều niệm Phật). Niệm khoảng 30 phút hoặc 60 phút, liền hết nhức ngực. Đó là thành công bước đầu. Hành trì như vậy đôi ba ngày, sẽ dứt hẳn đau nhức, được lành bệnh.

(2) Nếu cách trên không thành công thì tập cách thứ hai:

Tách rời tiếng Phật hiệu khỏi nhịp đập của tim bằng cách không quan tâm, không để ý nghe tiếng nhịp đập của trái tim (thả lỏng để nó tự đập), miệng niệm Phật ra tiếng càng lớn càng tốt, trụ danh hiệu Phật ở một nơi nào đó trên thân như ở bụng hay đầu gối chẳng hạn (thay chỗ trụ của danh hiệu Phật, trước đây ở tim, bây giờ ở bụng). Tai lắng nghe, tâm ghi nhận danh hiệu Phật (miệng, tai và tâm đều niệm Phật). Niệm khoảng 30 phút hoặc 60 phút, liền hết nhức ngực. Đó là thành công bước đầu. Hành trì như vậy đôi ba ngày, sẽ dứt hẳn đau nhức, được lành bệnh.

Hai cách này chỉ khác nhau ở chỗ: Cách thứ nhất không trụ danh hiệu Phật vào đâu cả. Cách thứ hai trụ danh hiệu Phật ở bụng.

Sau khi lành bệnh hẳn, xả bỏ không trụ danh hiệu Phật ở bụng nữa (vô trụ). Có chăng, ý chỉ trụ vào danh hiệu Phật.

45. Hỏi: Nhập tâm lộn lạo Đà Phật A Di là sao?

Đáp: Kinh nghiệm cho thấy, nếu niệm không rành rẽ, rõ ràng thì khi nhập tâm sẽ không rành rẽ, rõ ràng. Khi niệm nhấn mạnh chữ nào, sẽ nhập tâm chữ đó trước, tiếp theo những chữ kế tiếp. Ví dụ, nhấn mạnh chữ “A” khi nhập tâm, sẽ ra “A Di Đà Phật”. Nhấn mạnh chữ “Phật”, khi nhập tâm nó sẽ ra “Phật A Di Đà”. Nhấn mạnh chữ “Đà”, khi nhập tâm nó sẽ ra “Đà Phật A Di”.

Tôi đã bị rồi. Thuở đó không phải tôi niệm Phật, nhấn mạnh chữ “Đà”, mà buổi tối ngủ tôi để máy niệm Phật suốt đêm. Máy Sony có một nút điều chỉnh, hát nhấn mạnh chữ đầu, giữa, hay cuối, tôi không để ý, nên nhấn lầm chữ giữa, mới ra nông nỗi như vậy. Một liên hữu khác cũng bị như tôi, nguyên nhân vì cô ấy niệm bốn chữ, mà chữ “Đà” kéo dài hơn hết, như vậy coi như là nhấn mạnh chữ “Đà”.

Muốn điều chỉnh lại cũng được nhưng mất thời gian khá lâu. Xin gợi ý cách điều chỉnh sau đây:

Theo Duy thức học, khi chủng tử khởi hiện hành, ta quan tâm (thương, ghét, vui, buồn) đến nó, nó sẽ rơi (huân tập) vào tạng thức lớn mạnh hơn trước. Bằng không để ý đến nó, nó cũng rơi vào tạng thức, nhưng yếu dần dần, nhẹ hơn trước. Do vậy, khi nghe Tự tánh tự niệm “Đà Phật A Di” ta phớt lờ, dửng dưng (không quan tâm đến nó). Miệng lớn tiếng niệm A Di Đà Phật đè lấp “Đà Phật A Di” để điều chỉnh lại. Tùy người, tôi phải mất gần một năm, liên hữu nọ chỉ cần mấy tháng thôi, là điều chỉnh lại được hoàn toàn, nghĩa là mất hẳn không còn “Đà Phật A Di” nữa, mà toàn là “A Di Đà Phật” mà thôi.

46. Hỏi: Niệm Phật cách nào gọi là “Lão Thật niệm Phật”?

Đáp: “Lão thật niệm Phật” có nghĩa là thật thà (thành thật, chắc thiệt) niệm Phật. Thực hành bằng cách sau:

(1) Chuyên tâm nhất ý niệm Phật, ngoài danh hiệu Phật, không còn sự việc gì khác nữa.

(2) Miệng niệm Phật, tâm cũng phải niệm Phật.

(3) Miệng và tâm niệm Phật không xen tạp, không gián đoạn cho đến giờ phút cuối cùng cuộc đời, nghĩa là lấy danh hiệu Phật làm mạng sống của mình.

a. Tâm không hoài nghi, tuyệt đối tin tưởng vào lời giáo hóa của Phật Thích Ca và đại nguyện của Phật A Di Đà.

b. Tâm không mong cầu bất cứ gì khác như: chứng đắc, vãng sanh, thành Phật…

c. Tâm buông xả vạn duyên, nghĩa là tâm không nhớ nghĩ gì khác, kể cả ăn, uống, mặc, ngủ nghỉ, ngũ dục lục trần, danh văn lợi dưỡng, thị phi, được mất, hơn thua, thành bại..

d. Tâm không còn chấp ngã.
(4) Toàn thân tâm đều niệm Phật. Ban đầu dùng nhĩ căn niệm Phật, nghĩa là nghe bất cứ tiếng gì cũng là tiếng niệm Phật, như tiếng chim kêu, gió thổi, nuớc chảy, xe chạy, thậm chí tiếng mắng chửi mình cũng là tiếng niệm Phật (gọi là giả tá). Sau đó các căn khác cũng đều như vậy.

Kinh nghiệm cho biết dễ giả tá nhất là tiếng mõ. Bản thân tôi và nhiều Phật tử thực hành, có kết quả như ý.

(5) Hòa nhập năng sở làm một, nghĩa là ta, người niệm Phật (năng) và danh hiệu Phật được niệm (sở) là một.

Tóm lại: Buông xả vạn duyên, không mong cầu, suốt đời chuyên tâm nhất ý, toàn thân tâm niệm Phật không hoài nghi, không mong cầu, không xen tạp, không gián đoạn. Cuối cùng không còn chấp ngã, hòa nhập năng sở làm một.

Thực hiện được những điều nói trên, tùy theo mức độ cạn sâu, sẽ lần lượt chứng nhập: Nhập tâm, Bất niệm tự niệm, (Thành một khối), Nhất tâm bất loạn (Niệm Phật Tam muội).

Hành giả nên cố gắng, kiên trì thực tập từng bước, hầu sớm thành tựu Tịnh nghiệp, bảo đảm vãng sanh Cực Lạc, thành Phật độ chúng sanh.

47. Hỏi: Khi ngồi tịnh tọa niệm Phật, để nhiếp nhãn căn, con nhắm mắt, thời gian ngắn, bỗng con thấy những người và thú rất xa lạ với con, con mất chánh niệm. Con mở mắt ra thì không còn thấy gì nữa. Trước kia, con thường thấy vậy nhiều hơn, sau khi con được nhập tâm tình trạng này ít dần. Như vậy những hình người và thú này từ đâu mà có? Tình trạng này tốt hay xấu, và con phải làm sao, thưa Thầy?

Đáp:

(1) Chủng tử tiềm tàng trong tạng thức, chúng nương vào sáu căn để hiện hành. Nhắm mắt là đóng kín nhãn căn (không cho chủng tử hiện hành qua mắt) cộng thêm liên hữu niệm Phật là huân tập chủng tử danh hiệu Phật vào tạng thức, chủng tử vô lậu này chuyển hóa những chủng tử hữu lậu, để đối phó lại hai áp lực này, chủng tử hữu lậu phản ứng lại bằng cách khởi hiện hành, nên hiện tượng này gọi là “Sức phản ứng của chủng tử nghiệp”.

Những hình người và thú mà liên hữu thấy, hiện hữu trong tâm. Cái thấy lúc bấy giờ không phải thấy bằng mắt (vì mắt đã nhắm lại rồi), mà thấy bằng tánh thấy (cũng ở trong tâm). Cảnh giới này hoàn toàn xảy ra trong tâm nên gọi là nội giới. Nội giới này xuất phát từ tạng thức (A lại da thức), nên gọi là “A lại da biến tướng”.

(2) Hiện tượng này trước đây xảy ra nhiều, nay dần dần ít lại.

Theo Duy thức học, chủng tử khởi hiện hành mà mình không theo (không nuôi dưỡng), nó cũng rơi lại tạng thức nhưng yếu hơn, nhiều lần như vậy nó sẽ mất hẳn (tiệu diệt).

(3) Tốt hay xấu. Ở đây không nói tốt hay xấu, mà chỉ nói là nó lợi, hại thế nào?

a. Lợi: Chủng tử hữu lậu nó khởi hiện hành để rồi tiêu mất, nếu không, nó tiềm phục mãi trong tạng thức, đến giờ phút lâm chung, đủ duyên nó khởi hiện hành thì rất nguy hiểm. Đây là nói với hành giả chưa đạt Bất niệm tự niệm.

b. Không lợi, nó khởi hiện hành làm mình mất chánh niệm, vậy là bị xen tạp bị gián đoạn rồi.
(4) Cách đối trị.

Cổ đức dạy: “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm” Nghĩa là không sợ vọng niệm, vọng tưởng khởi dậy mà chỉ sợ quên không nhớ niệm Phật (giác chậm). Vậy thì hành giả nên:

a. Mặc kệ nó, hiện tượng (sức phản ứng của chủng tử nghiệp), cảnh giới (A lại da biến tướng) như nói trên, chúng là vọng tưởng, là giả, không thật, không cần chú ý, không cần quan tâm đến chúng, chúng tự sanh sẽ tự diệt.

b. Lập tức dõng mãnh phát khởi câu Phật hiệu “A Di Đà Phật”. (Niệm càng to tiếng càng tốt). Ngay khi đó, hiện tượng, cảnh giới trên tự mất, vì tâm một lúc không thể làm hai việc, niệm Phật thì vọng niệm tự mất. Hành trì nhiều lần như vậy, ác chủng tử này tự diệt.
Phụ chú: Gần đây có hai nữ Phật tữ, không phải lúc nhắm mắt, mà lúc niệm Phật bình thường, bổng nhiên nghe tiếng, hoặc nhìn thấy hình ảnh dơ bẩn (bất tịnh) của nam nữ. Tệ hại hơn, đôi khi lại thấy rõ ràng diễn viên chính là mình với chồng. Tệ trạng này tương tự trường hợp trên. Vậy, phải hiểu và đối trị như nói trên.

48. Hỏi: Vậy, con nên nhiếp nhãn căn bằng cách nào, thưa Thầy?

Đáp: Từ nhiếp có hai nghĩa hẹp và rộng (cạn và sâu). Hành giả thường hành hai cách:

(1) Khi tịnh tọa niệm Phật, ngồi kiết già hay bán già, lưng thẳng, mở hí mắt (1/4), để hạn chế tầm nhìn của mắt.

(2) Khi tịnh tọa niệm Phật, đễ tượng (hình) Phật A Di Đà trước mặt, mắt nhìn tượng Phật để cột nhãn căn, nhãn thức vào tượng Phật, tránh không cho mắt phan duyên ngoại cảnh khác.

(Xin đọc câu đáp nhiếp sáu căn, dưới đây).

49. Hỏi: Nhiếp sáu căn là sao?

Đáp: Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp, đắc Tam ma địa bậc nhất”. Sáu căn là gì? Là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Tại sao phải nhiếp? Sau đây là lý do:

* Ý nghĩa:

Người xưa dạy: “Sáu căn là sáu tên giặc (lục tặc) cũng là cửa sổ mở sáu phép thần thông (lục thông)” hoặc “Sáu căn không dính mắc sáu trần là giải thoát”.

Mắt thấy sắc, đuổi theo, chấp chặt nên khổ đau. Tai nghe tiếng, đuổi theo, chấp chặt nên khổ đau. Mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy. Muốn hết khổ đau, tâm được an định thì sáu căn phải được thu nhiếp (không chạy theo sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).

Tịnh niệm là niệm thanh tịnh. Thanh tịnh ở đây là không hoài nghi, không mong cầu, ngoài thánh hiệu A Di Đà, không xen tạp thánh hiệu nào khác, không tham, sân, si…

Tam ma địa nghĩa là chánh định, đối với Tịnh Độ tông tức là nhất tâm bất loạn.

* Thực hành: từ cạn đến sâu.

Cấp I: Nhiếp sáu căn nghĩa là sáu căn vẫn tiếp xúc và hay biết mọi sự mọi việc, nhưng chỉ dính mắc, chấp chặt duy nhứt vào một đối tượng mình mong muốn, ngoài ra không đuổi theo bất cứ sự việc nào khác. Cụ thể, mắt nhìn tượng Phật để nhiếp nhãn căn vào Phật. Tai nghe tiếng niệm Phật để nhiếp nhĩ căn vào thánh hiệu Phật. Mũi ngửi mùi hương cúng Phật để nhiếp tỷ căn vào cảnh giới Phật. Lưỡi niệm Phật để nhiếp thiệt căn vào thánh hiệu A Di Đà. Thân ngồi nghiêm trang để nhiếp thân căn vào cảnh giới Phật. Ý nhớ nghĩ ghi nhận tâm thanh của thánh hiệu Phật là nhiếp ý căn vào danh hiệu Phật. Tóm lại chỉ nhiếp sáu căn vào Phật, nghĩa là sáu căn chỉ dính mắc độc nhất vào Phật, không dính mắc vào sáu trần nào khác.

Người xưa dạy:

Thấy sắc không mê sắc
Nghe tiếng chẳng nhiễm tiếng
Sắc tiếng đều không ngại
Mới đến Pháp vương thành.

-o0o-

Như mù mắt không nhìn ngoại cảnh
Như điếc tai chẳng thính mảy may
Càng không dao động càng hay
Người ngồi tịnh tọa việc ngoài xem không.

-o0o-
Vua Trần Thánh Tông nói:

Lưỡi vướng vị ngon, tai vướng tiếng
Mắt theo hình sắc, mũi theo hương
Lênh đênh làm khách phong trần mãi
Ngày hết, quê xa vạn dặm đường.
“Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện” nghĩa là cột tâm một chỗ, không việc gì chẳng xong.

Cấp II: Ý trì là niệm Phật bằng ý (Xin đọc phần IV, Cách trì danh, sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh). Niệm bằng ý vẫn có tiếng. Bây giờ lắng lòng nghe tiếng Phật hiệu, gọi là “Phản văn, văn Phật hiệu”. Nghe không phải là nghe bằng lỗ tai (nhĩ căn) mà nghe bằng tánh nghe (tánh trong căn).

Theo Duy thức học, ý thức chỉ đạo (là chủ) của năm thức trước, nghĩa là khi ý thức không can dự vào thì năm thức trước mất tác dụng (như nhìn mà không thấy, “thị bất kiến”; nghe mà không biết “thính bất văn”…). Do vậy, khi nhiếp được ý thức là đương nhiên nhiếp cả năm thức còn lại. Ý trì trên đây nhiếp ý thức lẫn nhĩ thức nên hiệu quả rất cao.

Cấp III: Tập như trên lâu ngày chày tháng thành thục, sẽ nhiếp (đóng) trọn vẹn nhĩ căn, nghĩa là ngoài danh hiệu Phật không còn nghe bất cứ âm thanh nào khác.

Lục căn dung thông (liên quan) lẫn nhau. Chỉ cần nhiếp thành tựu một căn, thì năm căn còn lại cũng thành tựu. Như Cổ đức dạy: “Nhất tu, nhất thiết tu”, nghĩa là thành tựu một là thành tựu tất cả. Đạt đến trình độ này mới đúng nghĩa nhiếp trọn vẹn sáu căn. Khi nhiếp trọn vẹn sáu căn và niệm Phật không gián đoạn, là đạt Nhất tâm bất loạn. Ban đầu là Sự nhất tâm bất loạn, sau là Lý nhất tâm bất loạn, thì vãng sanh Thật báo trang nghiêm độ (Thượng phẩm).

50. Hỏi: Hành giả niệm Phật phải đạt tiêu chuẩn nào để được vãng sanh Cực Lạc?

Đáp: Muốn được vãng sanh, hành giả phải đạt những điều kiện như Kinh Phật ấn định như sau:

(1) Kinh A Di Đà dạy: “Xá Lợi Phất này! Nếu có thiện nam tử hay thiện nữ nhân mà được nghe nói Phật A Di Đà, rồi nhớ ngay danh hiệu của Ngài, niệm trong một ngày, hay là hai ngày, hay là ba ngày, hay là bốn ngày, hay là năm ngày, hay là sáu ngày, hay là bảy ngày, niệm kỳ cho thành người nhất tâm, không còn loạn tưởng, thế là người ấy khi nào lâm chung, Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng hiện ra trước mặt. Người ấy lúc chết, tâm không điên đảo, tức được sanh sang nước Cực Lạc của Phật A Di Đà”.

(2) Kinh Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ dạy: “Lại này Xá Lợi Tử! Nếu có các thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân lòng tin trong sạch, được nghe danh hiệu vô lượng vô biên công đức chẳng thể nghĩ bàn của Phật Vô Lượng Thọ và thế giới Cực Lạc công đức trang nghiêm như vậy, nghe xong tư duy: hoặc một ngày một đêm, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, hoặc năm, hoặc sáu, hoặc bảy ngày, hệ niệm chẳng loạn thì các thiện nam tử, hoặc thiện nữ nhân đó, lúc lâm chung được Phật Vô Lượng Thọ và vô lượng Thanh văn đệ tử, Bồ tát chúng của Ngài vây quanh trước sau, đến đứng trước mặt, từ bi gia hựu (gia hộ, gia bị) khiến tâm chẳng loạn. Xả mạng xong, người này theo Phật chúng hội vào thế giới Cực Lạc, cõi Phật thanh tịnh của Phật Vô Lượng Thọ”.

(3) Kinh Vô Lượng Thọ, Nguyện thứ mười tám: “Lúc tôi thành Phật, chúng sanh nghe danh hiệu tôi, chí tâm tin ưa, tất cả thiện căn, tâm tâm hồi hướng nguyện sanh cõi tôi, dẫu chỉ mười niệm, nếu chẳng được sanh, thì chẳng lấy chánh giác, chỉ trừ kẻ ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp”.

(4) Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: “Bậc trí thức lại bảo phải chắp tay niệm Nam mô A Di Đà Phật, do đương nhơn thành tâm xưng danh hiệu Phật, nên tiêu trừ trọng tội tám mươi ức kiếp sanh tử”. Ngay lúc ấy Đức Vô Lượng Thọ Như Lai cảm biết, liền sai Hóa Phật, Hóa Quan Âm và Hóa Thế Chí hiện đến trước hành giả khen rằng: “Lành thay thiện nhơn! Người đã xưng danh hiệu Phật, nên các tội tiêu diệt, ta đến đây để rước ngươi”.

Nói gọn, chỉ cần niệm Phật một câu cũng được Phật tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc.

(5) Kinh Pháp Cổ còn nói một cách đơn giản hơn: chỉ cần khởi lên ý muốn vãng sanh Cực Lạc là được Phật tiếp dẫn về Cực Lạc.

Tóm lại, điều kiện được vãng sanh hết sức dễ dàng, trước giờ phút lâm chung chỉ cần niệm một câu Nam mô A Di Đà Phật hay A Di Dà Phật. Hoặc vì lý do gì đó không niệm được chỉ cần khởi lên ý muốn vãng sanh Cực Lạc là được Phật tiếp dẫn về Cực Lạc.
51. Hỏi: Hành giả phải niệm Phật thế nào để được bảo đảm vãng sanh?

Đáp: Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư, Bát Tổ Liên Trì đại sư, Hòa thượng Thích Trí Tịnh đồng dạy: “Người niệm Phật phải đạt tầng công phu thấp nhất là Niệm lực tương tục, tức là Bất niệm tự niệm mới bảo đảm vãng sanh”. Muốn đạt Bất niệm tự niệm phải chuyên tu chánh hạnh, chánh định nghiệp theo sự dạy bảo của Nhị Tổ Thiện Đạo.

52. Hỏi: Chuyên tu chánh hạnh là sao?

Đáp: Quán Kinh Sớ quyển bốn, Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư nói: “Từ công hạnh mà thiết lập tín tâm”. Nhưng công hạnh có hai loại: một là chánh hạnh, hai là tạp hạnh. Chánh hạnh tức là chỉ y tựa vào các Kinh vãng sanh mà tu tập. Cụ thể chánh hạnh là như thế nào?

– Một là, nhất tâm chuyên tụng Quán Kinh, A Di Đà Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh.

– Hai là, nhất tâm chuyên chú, suy gẫm, quán sát, ức niệm sự trang nghiêm của chánh báo và y báo của cõi Cực Lạc.

– Ba là, nếu như lễ lạy, thì chỉ chuyên tâm lễ lạy đức Phật A Di Đà.

– Bốn là, nếu xưng danh, thì chỉ nên xưng tán danh hiệu của đức Phật A Di Đà.

– Năm là, nếu như tán thán cúng dường, thì chỉ nên nhất tâm tán thán cúng dường đức Phật A Di Đà.

Đây gọi là chánh hạnh.

Lại nữa trong phần chánh hạnh, có hai loại: nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà, đi, đứng, nằm, ngồi bất luận thời gian dài ngắn, niệm niệm không quên, đây gọi là nghiệp chánh định, thuận theo bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà. Còn các nghiệp: lạy Phật, tụng Kinh, tán thán Phật A Di Đà, quán sát cõi Cực Lạc đều gọi là nghiệp phụ.

Ngoại trừ hai hạnh chánh và phụ nầy ra, các hạnh khác đều gọi là tạp hạnh.

Câu trên ý muốn nói tạp hạnh nhiều vô lượng không thể nói hết được, thế nhưng ở đây nêu lên năm loại chánh hạnh làm chuẩn, ngoài ra đều là tạp hạnh.

Sơ Tổ Tịnh độ tông Nhật Bản là Pháp Nhiên thượng nhân dạy: “Phàm muốn xa lìa sanh tử, cần phải bỏ Thánh đạo môn mà vào Tịnh Độ môn”. Trong Tịnh Độ môn nên bỏ tạp hạnh mà tu chánh hạnh. Trong chánh hạnh, cần phải gác qua trợ nghiệp mà chọn lấy chánh định nghiệp. Chánh định nghiệp tức là xưng danh hiệu Phật. Hễ xưng danh liền được vãng sanh, vì nhờ sức bản nguyện của Phật.

Trên đường trời, người, tu phước làm đầu. Trong biển sinh tử, niệm Phật bậc nhất.

53. Hỏi: Triệu chứng trước khi nhập tâm là thế nào?

Đáp: Triệu chứng có rất nhiều, tùy theo căn tánh, túc căn, quá trình tu tập hiện đời, có vị bị rất nặng, trung bình, nhẹ hoặc không có gì… Tôi không thể nói cho quí vị biết được vì hai lý do sau:

(1) Biết trước, quý vị sẽ có sẵn ấn tượng, vì quá mong muốn, hiện tượng ấy do tâm tưởng hình thành, nên chưa được mà cứ nghĩ là đã được, rất nguy hiểm!

(2) Hiện tượng xảy ra cho quí vị không giống như tôi. Nếu tôi kể ra hết có thể làm quí vị hoang mang, mà như thế là không tốt.

Nên nhớ: Dù hiện tượng nào đó xảy đến, mà nó không hành hạ quá đáng thể xác mình (như gây đau nhức nhiều) thì đó chỉ là hiện tượng tâm linh, hoặc nghiệp chướng khảo đảo. Hãy lạy Di Đà sám và an nhẫn tiếp tục hành trì, vài hôm hiện tượng đó tự dứt, liền được nhập tâm. Xin kể một số trường hợp cụ thể đã xảy ra như sau:

a. Hành giả nọ nghe trong đầu nổ: “Bốp!, A Di Đà Phật, Bốp! A Di Đà Phật, Bốp! A Di Đà Phật…”. Tiếng “Bốp” rất lớn, lớn hơn tiếng A Di Dà Phật, tưởng chừng như sắp bể cái đầu, thế mà không bị nhức đầu gì cả (bình thường).

b. Hành giả khác lại nghe tiếng niệm Phật rất lớn (tưởng chừng như sắp bể cái đầu) pha trộn với đủ thứ tạp âm (đôi khi bất thiện) làm cho hành giả rối loạn tinh thần, mất ngủ, mệt mõi, hoang mang sợ bị tẩu hỏa nhập ma.

c. Hành giả khác lại nghe toàn là tạp âm như tiếng chuông chùa, tiếng trống, tiếng mỏ, tiếng thổi kèn, tiếng chim kêu, tiếng nước chảy, tiếng nước sôi, hoặc âm điệu niệm Phật, tiếng trẻ con khóc, v.v…

d. Bản thân tôi thì nghe tiếng ca cải lương, tiếng nói chuyện của người đã chết từ lâu, tiếng tụng trọn chú Đại bi và Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Những trường hợp trên chỉ là nghiệp chướng, sự phản ứng của tạp chủng tử nghiệp mà thôi. Nếu hành giả, thiếu hiểu biết, hoang mang lo sợ đủ thứ, rồi nghe những lời không đúng của kẻ bàng quang, không dám niệm Phật nữa (bỏ cuộc), kết quả sẽ không được gì cả, tự mình hủy hoại công phu nhiều năm hành trì niệm Phật (trắng tay), để rồi phải trôi lăn mãi trong sáu nẻo luân hồi, thật là oan uổng lắm vậy!

Tôi và quý hành giả nói trên thản nhiên, tiếp tục niệm Phật như thường ngày, thời gian sau hiện tượng kỳ lạ trên không còn nữa (tự dứt), liền được nhập tâm (êm ả nghe bằng tánh nghe) duy nhứt thánh hiệu Phật A Di Đà.

Có những trường hợp cá biệt khác, nếu cần, kính xin quý vị đặt câu hỏi trên website: [Phật Giáo Việt Nam Net Yêu Cầu Dăng Nhập Mới Có Thể Thấy Link. Đăng Ký Thành Viên Ở Đây], tôi hoan hỉ góp ý để quí vị vượt qua chướng nạn này, hầu được nhập tâm, thành tựu chí nguyện vãng sanh Cực Lạc, thành Phật, độ chúng sanh.

Có những vị ở Mỹ và Việt Nam, chẳng có triệu chứng gì, nhập tâm ba bốn năm rồi mà chẳng biết là gì, đường ai nấy đi, chẳng ai để ý đến ai, khi được thân nhân mách bảo mới tìm sách học cách nuôi lớn mức nhập tâm. Cũng có những vị không biết gì, từ từ nó mất luôn, thật đáng tiếc!

54. Hỏi: Làm sao biết được mình đã nhập tâm?

Đáp: Khi ta không dụng công niệm Phật mà vẫn nghe (phải nghe chứ không phải nghĩ, không phải tưởng, cũng không phải biết) tiếng niệm Phật. Ta thử bịt lỗ tai lại thì có hai trường hợp xảy ra:

a. Nếu tai không còn nghe gì nữa, thì cái nghe trước khi đó, thuộc trường hợp cái nghe bình thường. Đó là nghe dư âm từ không gian dội (rót) vào lỗ tai, là nghe bằng nhĩ căn, nhĩ thức, như vậy là không phải (chưa) nhập tâm.

b. Bằng như còn nghe (nghe tiếng niệm không phải từ dư âm bên ngoài), chứng tỏ rằng tiếng niệm Phật này không phải ở ngoài không gian, mà là ở trong nội tâm mình phát ra. Lúc này mình không nghe bằng lỗ tai, nhĩ căn, nhĩ thức nữa, mà nghe bằng tánh nghe, (nhà thiền gọi là tánh trong căn). Trường hợp này mới đúng là phản văn, văn tự tánh, nghĩa là quay cái nghe lại, nghe tự tánh mình niệm. Đây tạm gọi là nhập tâm.
55. Hỏi: Niệm Phật đến mức nhập tâm rồi, sao con nghe khi lớn khi nhỏ, như xa như gần, lúc ở đầu, lúc ở ngực, đủ thứ giọng khác nhau, nhiều khi chỉ nghe âm điệu Niệm Phật chứ không phải tiếng niệm Phật. Tại sao như thế?

Đáp: Phải nghe bằng tánh nghe mới là nhập tâm, còn như nghe bằng lỗ tai là chưa nhập tâm, phải để ý kỹ điều này. Lý do hành giả cảm thấy như thế là vì:

– Từ lâu rồi (những kiếp trước và kiếp này) ta huân tập đủ thứ, lúc bấy giờ chủng tử nào mạnh nhứt nó khởi hiện hành trước, nhân nào quả nấy.

– Tiếng khi lớn khi nhỏ lệ thuộc vào mức độ an định của tâm.

– Âm điệu niệm Phật là bước đầu của tiếng niệm Phật.

– Tâm không ở trong, không ở ngoài, không ở giữa, không ở trên, không ở dưới, mà ở khắp mọi nơi, mình nghĩ tưởng ở đâu, nó sẽ ở đó.

– Hãy tinh tấn miên mật huân trưởng mức nhập tâm theo sự chỉ dẫn trong sách “Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh” mọi sự, mọi việc sẽ từ từ điều hòa lại.

Trường hợp cụ thể, điển hình như sau:

(1) Bản thân tôi:

Ban đầu tôi nghe tiếng (bằng tánh nghe):

– Ca cải lương (từ thuở bé đến nay, tôi không thích, dĩ nhiên là chưa bao giờ tôi ca cải lương cả).

– Tụng trọn biến chú Đại Bi.

– Niệm: “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

– Nói của người thân đã chết từ lâu, mà nhiều năm qua tôi chưa hề nhớ, nghĩ đến.

(2) Một liên hữu ở ngoài tiểu bang Texas:

Cô nghe (bằng tánh nghe) niệm: “Namo Amituofo”, mà chính cô không biết Namo Amituofo là gì, dĩ nhiên là từ thuở bé đến nay cô chưa hề nghe và niệm như vậy.

Tại sao, xảy ra trường hợp khó hiểu thế? Vì lý do sau:

Những thứ nói trên, từ ca cải lương… đến Namo Amituofo, là những chủng tử ta đã huân tập (gieo) từ nhiều kiếp trước đến nay, chúng tiềm phục sâu trong tạng thức (vô thức), nay đủ duyên (nhờ công đức niệm Phật, tâm ta có phần nào thanh tịnh) chúng tự khởi hiện hành.

Tại sao, nay ta niệm A Di đà Phật mà không hiện hành “A Di đà Phật”? Vì chủng tử A Di Đà Phật còn yếu hơn những chủng tử kia. Nếu ta tiếp tục huân tập thêm chủng tử “A Di Đà Phật” đến mức độ nào đó, đủ mạnh, nó sẽ tự khởi hiện hành. Lúc bấy giờ những tạp chủng tử nói trên (ca cải lương…) sẽ không còn khởi hiện hành được nữa.

Đây là kinh nghiệm thực tế của bản thân tôi và liên hữu nọ. Tôi kể ra, để quý liên hữu từ đây suy ra, hiểu rõ, không phải thắc mắc, khó nghĩ với những trường hợp tương tự.

56. Hỏi: Trạng thái nhập tâm và Bất niệm tự niệm có khác nhau không? Nếu có, thì khác nhau như thế nào?

Đáp: Khác nhau, khác nhau ở chỗ cạn sâu. Nhập tâm là chỉ trạng thái ban đầu của Bất niệm tự niệm. Bao giờ dù mình không niệm mà vẫn nghe tiếng niệm Phật liên tục không gián đoạn, suốt thời gian từ sáng đến tối, đến khi ngủ quên, như vậy mới đúng nghĩa Bất niệm tự niệm. Còn như mỗi ngày chỉ nghe được năm, mười câu hay năm mười tiếng đồng hồ thì chưa đúng là Bất niệm tự niệm, chỉ gọi là Nhập tâm (bước đầu của Bất niệm tự niệm) mà thôi.

57. Hỏi: Người mới nhập tâm, sao nghe tiếng của máy, hoặc tiếng của quý thầy, chứ không phải tiếng của mình?

Đáp: Nhân nào quả nấy, khi hành trì huân tập giọng nào nhiều, mạnh hơn, giọng đó sẽ tự khởi lên trước. Hạt giống của đời này lẫn những đời trước, hạt giống nào mạnh sẽ khởi hiện hành trước. Trong thời gian huân trưởng, huân tập bằng giọng của mình, thời gian ngắn sẽ ra tiếng của mình. Chớ đặt nặng là tiếng, giọng của ai, vì nó sẽ thay đổi theo tiến trình công phu của hành giả.

58. Hỏi: Hành giả nhập tâm rồi, muốn nuôi lớn nó phải hành trì cách nào?

Đáp: Có nhiều vị nhập tâm năm, ba năm rồi mà không biết cách nuôi lớn, nên nó vẫn y như cũ, tệ hại hơn, có vị bị mất hẳn không còn nghe nữa. Mất hẳn ở đây có nghĩa là không còn nghe, chứ thật ra chủng tử niệm Phật vẫn còn tích chứa trong tạng thức, chẳng qua là bị những chủng tử hữu lậu che lấp, nên tạm gọi là bị chìm thì đúng hơn.

Vậy thì phải nuôi lớn (huân trưởng) bằng cách nào?

Tức huân trưởng mức nhập tâm (huân là huân tập, trưởng là trưởng dưỡng) như thế nào để trở thành Bất niệm tự niệm?

Tùy theo túc căn và công phu sâu cạn của mỗi người mà sự nghe ban đầu số câu nhiều, ít, thời gian dài, ngắn, tiếng lớn nhỏ, khác nhau. Nghe tiếng của mình hay của người khác, tùy thuộc vào sự huân tập tiếng của ai nhiều, thì nghe tiếng của người đó trước (của mình hay của máy niệm Phật).

Khi nghe niệm câu Phật hiệu (tự niệm) thì mình niệm theo cách nào cũng đuợc, niệm ra tiếng là tốt nhất, nếu có sức.

Bằng không, lắng lòng nghe tiếng tự niệm câu Phật hiệu thôi. Khi ngưng tự niệm câu Phật hiệu, thì mình niệm mồi ra tiếng là tốt nhất, thời gian dài, ngắn tùy mỗi người.

Thí dụ: Tự niệm mười câu Phật hiệu, mình niệm mồi ba mươi phút, ngưng coi có tự niệm lại không. Nếu chưa chịu niệm thì mình niệm mồi thêm mười phút nữa. Nếu có tự niệm thì mình ngưng. Đếm coi tự niệm mấy câu, khi câu Phật hiệu ngưng, mình lại niệm mồi nữa.

Ví như lần đầu niệm mồi bốn mươi phút, lần thứ hai mình phải niệm mồi đủ bốn mươi phút mới có tự niệm. Nhiều lần như vậy, nếu tự niệm tăng số câu, thì mình giảm số phút niệm mồi. Khi tự niệm tăng, mình giảm niệm mồi. Cho đến khi nào luôn luôn có tự niệm, mình khỏi niệm mồi, mà mình nghe tiếng niệm Phật liên tục, không gián đoạn, suốt thời gian còn thức, như vậy mới đúng nghĩa Bất niệm tự niệm.

Trường hợp niệm lực còn yếu, nếu ta đang bận làm việc gì chẳng hạn như đọc sách được vài hàng, vài trang, thì không còn nghe tiếng niệm Phật nữa. Hãy huân tập niệm, hoặc bằng miệng, hoặc bằng ý thật nhiều cho đến khi nào nghe suốt cả ngày, thậm chí đang đọc sách cả ngày, vẫn nghe câu Phật hiệu trong tâm (tự tánh) phát ra liên tục không gián đoạn.

Phụ chú: trong giai đoạn huân trưởng vẫn phải quan tâm tuân hành bốn yếu quyết huân tập đề cập ở câu đáp 6A.

59. Hỏi: Có người nói nhập tâm được rồi mà nói ra sẽ bị mất. Điều này lý giải ra sao?

Đáp: Có hai trường hợp:

(1) Nói ra để khoe khoang, khoác lác thì bị mất, như Tổ thứ hai Thiện Đạo đại sư dạy: “Người đã được, nói là được để khoe khoang, khoác lác là nuôi lớn cái ta, từ đó sanh ra cống cao ngã mạn thì bao nhiêu công đức tu hành tự thiêu hủy hết”.

(2) Nói không đúng sự thật, Tổ thứ mười ba, Ấn Quang đại sư dạy: “Chưa được mà nói là được, hoặc được mười mà nói mười một là đại vọng ngữ, sẽ sa A tỳ địa ngục”.

Trường hợp nói ra để chia sẻ kinh nghiệm, khuyến khích bạn đạo cùng tu, chẳng những không mất mà còn có thêm công đức giúp mình dễ tiến tu hơn.

60. Hỏi: Ông xã con niệm Phật lai rai mà đã nhập tâm mấy tuần trước như Thầy đã biết, trưa nay đang tịnh tọa niệm Phật, lại nhiều lần thấy Quán Thế Âm Bồ tát. Vâng lời thầy, Ổng niệm Phật A Di Đà, càng niệm Phật, hình Quán Thế Ấm Bồ tát càng sáng tỏ hơn, như vậy là sao, thưa Thầy?

Đáp: Tốt lắm! Chú ấy được Quán Thế Âm Bồ tát tích cực hộ trì đây là điều rất quý, nhưng đừng đắm trước, mong muốn thấy thường xuyên sẽ gây chướng ngại sự tiến tu.

Hằng ngày nỗ lực tinh tấn huân trưởng mức nhập tâm theo chỉ dẫn trong sách “Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh”. Mỗi tối, trước khi đi ngủ, nên niệm mười câu: Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát
61. Hỏi: Con được nghe tự niệm (nhập tâm) hơn một tuần, nay bị mất (không còn nghe nữa). Vậy là tại sao, và làm sao lấy lại (nghe lại)?

Đáp:

(1) Huân tập chủng tử niệm Phật vào tạng thức khi đủ rồi, chủng tử khởi hiện hành. Không dụng công, không tác ý (không ra sức) niệm Phật mà vẫn nghe tiếng niệm. Đó là ta nghe được bằng tánh nghe. Mức độ này gọi là nhập tâm.

Thí dụ: Trong lu chứa lẫn lộn hai loại đậu trắng, đậu đen. Nay bỏ nhiều đậu trắng, dĩ nhiên đậu trắng nổi lên trên mặt (nhập tâm).

(2) Nay hành giả bị mất trạng thái nhập tâm, không còn nghe tự tâm niệm nữa, vì các lý do sau:

a. Không tiếp tục nuôi lớn (huân trưởng), không chuyên tu mà tạp tu (hãy đọc Phần V – chuyên tu chánh hạnh, sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh, và câu đáp 6A).

b. Không buông bỏ được mà bận rộn, dính mắc những thứ như:

– Tình cảm gia đình bị xáo trộn, sứt mẻ, vợ chồng, (không chung thủy) cha mẹ, anh chị em (giận hờn,…).

– Lo lắng sinh kế gia đình (quá bận rộn việc làm hằng ngày).

– Dính mắc lục trần: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp (ghiền nghe máy thu thanh, xem truyền hình, đắm mê phim Tàu, Tây, say sưa ca nhạc, du ngoạn Âu Á…).

Thí dụ: Không tiếp tục bỏ vào lu đậu trắng mà bỏ đậu đỏ (tạp tu) và đậu đen (thế sự) quá nhiều. Dĩ nhiên đậu trắng phải bị chìm (không còn nghe tiếng tự niệm nữa).
(3) Muốn hồi phục sự nghe tự tánh tự niệm, chỉ có cách duy nhất là huân trưởng mức nhập tâm (Xin đọc câu đáp 6A và 58A).

Thí dụ: Ngưng không bỏ đậu đỏ (tạp tu), đậu đen (hạt giống hữu lậu khác) vào lu nữa, mà chuyên bỏ thật nhiều đậu trắng (huân tập danh hiệu Phật thật nhiều). Tức nhiên đậu trắng tràn đầy lại trên mặt lu (chủng tử khởi hiện hành lại).

62. Hỏi: Phải nuôi lớn mức nhập tâm bao lâu mới đạt Bất niệm tự niệm?

Đáp: Thời gian nuôi lớn tùy thuộc bốn yếu tố sau:

– Túc căn, trình độ, cách hành trì, mức độ tinh tấn.

– Có nhiều vị túc căn sâu dầy mới nhập tâm, tự niệm liên tục chín mươi phút (trong lúc đó có vị chỉ tự niệm năm mười câu).

– Hành trì nuôi lớn đúng cách chỉ dẩn (câu đáp 58A).

– Tinh tấn tối đa, về chùa nhập thất từ bảy ngày đến một tháng, từ nhập tâm đạt Bất niệm tự niệm.

– Trường hợp hoàn cảnh không cho phép, về chùa không được, thì nên tự nhập thất tại gia một tháng, cũng sẽ có thể thành tựu như ý.

– Còn như trình độ nhập tâm thấp (chỉ nghe được khoảng năm mười câu), lại phải đi làm ngày tám tiếng đồng hồ, về nhà bận mọi việc, những ngày cuối tuần (Thứ bảy, Chủ Nhật) lại bận đi mua sắm, hoặc giải trí hoặc v.v… thì phải mất một hai năm. Nếu không khéo bị mất luôn. Thực tế trong hơn chín mươi vị nhập tâm, đã có hơn mười vị bị mất rồi. Trong số này cũng đã có mấy vị về chùa nhập thất từ một, hai tuần trở lên, mới hồi phục, nhập tâm lại được.

– Nói là “bị mất” nhưng thật sự “bị chìm” thì đúng hơn.

Thí dụ: đậu trắng vừa mới nổi lên mặt lu, không tiếp tục bỏ đậu trắng mà liên tục bỏ đậu đen (chủng tử hữu lậu qua những việc thế sự), hoặc bỏ đậu đỏ (tạp tu, không chịu khó hành trì vô gián tu, không chuyên tu chánh hạnh, chánh định nghiệp) nên đậu trắng bị chìm là chuyện dĩ nhiên thôi, mà chìm càng sâu, càng khó nổi lên lại được (hồi phục).

* Vì muốn thoát cảnh luân hồi nhiều hiểm nguy.

* Vì muốn cứu độ tất cả chúng sanh (dĩ nhiên trong đó có ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu nhiều đời nhiều kiếp của mình).

* Để khỏi phụ tấm lòng đại bi, ngày đêm mong chờ của đức Từ phụ A Di Đà, và sự tận tình giáo hóa của đức Bổn sư Thích Ca, chư Tổ, quý Thầy.
Tôi thiết tha kêu gọi quý liên hữu:

(1) Chưa được mức độ nhập tâm, hãy gấp rút nỗ lực vô gián chuyên tu chánh hạnh chánh định nghiệp để sớm nhập tâm.

(2) Đã nhập tâm rồi, hãy nổ lực hành trì như pháp, nuôi lớn mức nhập tâm, đạt Bất niệm tự niệm bảo đảm vãng sanh.

Thành kính cám ơn chư liệt vị.

Nam mô Tinh Tấn Hỉ Bồ tát Ma ha tát
Nam mô A Di Đà Phật

63. Hỏi: Hành giả phải tu đến trình độ nào để chắc chắn được vãng sanh?

Đáp: Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư, Bát Tổ Liên Trì đại sư và Hòa thượng Thích Trí Tịnh đồng dạy: “Người niệm Phật phải đạt tầng công phu thấp nhất là Bất niệm tự niệm (niệm lực được tương tục) mới bảo đảm vãng sanh”. Muốn đạt Bất niệm tự niệm phải chuyên tu Chánh hạnh, Chánh định nghiệp theo sự dạy bảo của Nhị Tổ Thiện Đạo đã nói ở câu đáp 52A.

64. Hỏi: Hành giả đạt Bất niệm tự niệm, muốn huân trưởng nó, phải hành trì cách nào?

Đáp: Muốn huân trưởng mức độ Bất niệm tự niệm, trong định khóa hành giả phải: tịnh tọa, lắng lòng, chú ý, lắng nghe tiếng niệm Phật của tự tánh.

Tịnh tọa: là ngồi yên lặng (xin đọc tỉnh tọa niệm Phật nói ở phần IV: Thời khóa công phu, sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh).

Lắng lòng: lắng lòng cũng gọi là nhiếp tâm, định tâm, nghĩa là lúc ấy buông xả vạn duyên, không nghĩ thiện, không nghĩ ác, không tính toán lợi hại, được mất, hơn thua, vinh nhục, không dính mắc sáu trần, không nhớ nghĩ thế sự, quá khứ, hiện tại, vị lai. Lúc này tâm không hướng ngoại mà quay hẳn vào trong, rỗng rang, vô sự. Y như Lục Tổ Huệ Năng bảo Thượng tọa Huệ Minh: “Thượng tọa hãy lắng lòng nghe ta hỏi, trong lúc không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Huệ Minh?”. Ngắn gọn, giản dị như thế mà Thượng tọa Huệ Minh tự khai ngộ, nhận ra bản lai diện mục (Phật tánh) của chính mình. Nhờ đâu? Nhờ lắng lòng.

Chú ý (tác ý) lắng lòng rồi chăm chỉ, chú ý, vì tâm vô nhị dụng, tâm không thể làm một lúc hai việc, chú ý nghe là cột tâm vào câu Phật hiệu, thì tâm không có niệm gì khác được (không vọng niệm).

Lắng nghe: nghĩa là dùng cái tâm rỗng rang vô sự lắng nghe (bằng tánh nghe) rành rẽ, rõ ràng, từng tiếng, từng câu niệm Phật của tự tánh. Đây mới thật sự là nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp mà Kinh Lăng Nghiêm, Phẩm Đại Thế Chí Bồ tát Niệm Phật Viên Thông Chương đã dạy.

Làm được bốn điều này trong thời gian ngắn, hành giả sẽ đạt niệm Phật Thành một khối. Tiếp tục hành trì như thế, sẽ tiến đến Nhất tâm bất loạn (từ sự đến lý, cũng gọi là niệm Phật tam muội) không cần phương tiện gì khác, như Kinh Lăng nghiêm đã dạy.

Trong lúc lắng nghe, câu Phật hiệu dù có nhanh, không rõ do nuốt chữ hay nhỏ tiếng, cũng mặc kệ, cứ một lòng lắng nghe từng tiếng, từng câu một. Thậm chí tiếng niệm Phật bị mất hẳn, cũng mặc kệ (không niệm mồi như huân trưởng mức nhập tâm nói trên) cứ một lòng lắng nghe, tự nhiên tiếng niệm Phật sẽ nổi lên lại, theo đúng chu kỳ của nó.

Lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy. Kiên tâm bền chí hành trì như thế lâu ngày sẽ không còn bị gián đoạn, mà được nối tiếp liên tục.

Phụ chú: Phương cách nói trên áp dụng trong định khóa (định tâm niệm Phật). Ngoài định khóa hành giả cũng nên niệm Phật ra tiếng hoặc nghe máy hầu phụ trợ hiệu năng huân trưởng.

Tiến sâu hơn, lấy động tu tịnh, giữa đại chúng trong đạo tràng cả trăm người cùng quý Thầy tụng Kinh, khi đang tràn ngập lời Kinh cùng tiếng chuông mỏ, mà ta nhiếp được nhĩ căn không cho nó phan duyên theo ngoại thinh, lắng lòng nghe được tiếng niệm Phật của tự tâm một cách liên tục không gián đoạn. Được vậy mới gọi là không bị cảnh chuyển, làm chủ được mình, bảo đảm vãng sanh.

Phàm làm việc gì, khi mình nhận thức được lợi ích của việc làm đó, mình mới hăng say, thích thú mà làm. Niệm Phật hay cách huân trưởng cũng không ngoài nguyên tắc này. Vậy hành giả nên tự tạo cho mình động cơ, thúc đẩy ta dũng mãnh tinh tấn hành trì miên mật, bằng cách tu tập cho ta có những khái niệm sau đây:

– Khái niệm rằng: bốn chữ A Di Đà Phật không phải là danh tự rỗng, mà là biểu tượng Pháp thân Phật A Di Đà (Kinh Niệm Phật Ba la mật). Niệm A Di Đà Phật là niệm Pháp thân của Ngài, nhớ nghĩ, cầu cứu Ngài tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc quốc. Chắc chắn ta được vãng sanh, nếu không thì Ngài trái với bổn nguyện (trái lời thề). Ngài đâu còn là Phật.

Vả lại Kinh dạy: “Mặt trời, mặt trăng có thể rơi rụng, núi Tu Di có thể tiêu tan, nhưng lời nói của Phật không bao giờ hư dối”, huống hồ đây là lời thề. Mặt khác trong Kinh A Di Đà nói: “Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã mười kiếp rồi”. Chữ Kiếp nếu đại kiếp, một đại kiếp bằng một tỷ ba trăm bốn mươi bốn triệu năm. Nếu tiểu kiếp, một tiểu kiếp bằng mười sáu triệu bảy trăm chín mươi tám ngàn năm. Ngài thành Phật đã quá lâu rồi, điều này chứng minh rằng Ngài không nguyện suông, Ngài đã tiếp dẫn tất cả chúng sanh đã niệm danh hiệu Ngài, Ngài không bỏ sót một ai cả.

– Khái niệm rằng: bốn chữ A Di Đà Phật là vạn đức hồng danh. Thánh hiệu này được tạo thành bởi vô lượng công đức mà Tỳ kheo Pháp Tạng (tiền thân của đức Phật A Di Đà) tu tập trong vô lượng kiếp, nên nói Thánh hiệu này tích tụ bao hàm vô lượng công đức. Liên tông Cửu Tổ Ngẫu Ích đại sư nói: “Niệm A Di Đà Phật để dời công đức đến với mình, thì công đức nào cũng phải đến hết”.

– Khái niệm rằng: “Niệm Phật thành Phật”. Nhân nào quả nấy. Khi hành giả niệm Phật là một mặt cầu cứu Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sanh, mặt khác, đánh thức ông Phật của tự tánh mình. Cổ đức nói: “Nhất niệm tương ưng, nhất niệm Phật. Niệm niệm tương ưng, niệm niệm Phật. Ngẫu Ích đại sư cũng nói: “Mỗi tiếng niệm Phật, tiếng nào mình cũng đã là Phật rồi”.

– Khái niệm rằng: tiếng niệm Phật siêu việt hơn hết mọi âm thanh, vì bản thể của nó là toàn bộ công đức, trí tuệ, hạnh nguyện của Phật. Tiếng niệm Phật có công năng thỏa mãn mọi nhu cầu của mình (tội diệt, phước sanh), có công năng tuyệt vời là chuyển hóa hết những chủng tử hữu lậu như tham, sân, si… bạch tịnh hóa tạng thức, tức là chuyển đổi thân tâm dần dần thanh tịnh mà mình không hề hay biết (Kinh Niệm Phật Ba la mật). Cuối cùng chuyển tám thức thành bốn trí.

Hành giả kiên tâm, bền chí hành trì sẽ cảm nhận sự vi diệu không thể nghĩ bàn.

Lưu ý: hành giả đạt Bất niệm tự niệm rồi, phải duy trì tình trạng này suốt đời để được bảo đảm vãng sanh.

65. Hỏi: Niệm Phật đạt Bất niệm tự niệm và Thành một khối giống hay khác nhau, giống và khác chỗ nào?

Đáp: Trong tiến trình tu Tịnh nghiệp, đạt đến Nhất tâm bất loạn có hai thuyết nói về điều này, có chút khác biệt như sau:

(1) Thuyết của Hòa thượng Trí Tịnh:

– Bất niệm tự niệm.

– Sự nhất tâm bất loạn.

– Lý nhất tâm bất loạn.

(2) Thuyết của Hòa thượng Tịnh Không:

– Thành một khối.

– Sự nhất tâm bất loạn.

– Lý nhất tâm bất loạn.

Hai thuyết này giống nhau ở chỗ cả hai đều nói có ba giai đoạn. Trong đó giai đoạn hai (2) và ba (3) giống nhau, chỉ giai đoạn đầu, tên gọi có khác nhau.

Bất niệm tự niệm nghĩa là không khởi tâm niệm Phật mà Tự tánh tự phát khởi tiếng niệm. Đây là diễn tả trạng thái hành trì.

Thành một khối nghĩa là trước đây những câu Phật hiệu rời rạc, riêng rẻ, nay chúng kết lại với nhau thành một khối, (một mãng, một phiến). Đây là diễn tả kết quả.

Tôi nghĩ vấn đề này, việc này là sự việc trừu tượng, không hình tướng, tạm đặt cho “Nó” một cái tên (một qui ước), để tiện diễn tả cho mọi người cùng hiểu, biết về “Nó” mà thôi.

Tùy theo cách diễn tả của mỗi người, nên có tên khác nhau vậy thôi. Đó là hai mặt của một vấn đề, hai khía cạnh của một sự việc. Vậy thì, tuy hai tên gọi khác nhau nhưng chung qui chỉ là một, cũng giống như những từ “Bản lai diện mục”, “Phật tánh”, “Tự tánh”, “Như lai tạng”… tên tuy khác nhưng chúng là một (dị danh đồng thể).

66. Hỏi: Còn tên gọi “nhập tâm” thì sao?

Đáp: Đầu năm 2009 tôi ra thất, chia sẻ kinh nghiệm niệm Phật cho Phật tử chùa Tịnh Luật. Hai tuần sau, có hai Phật tử được nhập tâm. Sáu tháng sau, có khoảng trên hai chục vị nhập tâm. Đầu năm 2010, có trên ba mươi vị nhập tâm, đến nay (tháng 7/2011) có trên chín mươi vị nhập tâm (kể cả tu sĩ và cư sĩ ở các tiểu bang khác). Lúc bấy giờ có mấy Phật tử đã nhập tâm trước đó, ỷ lại, giải đãi, buông trôi, không tiếp tục hành trì nên không còn nghe tiếng tự niệm nữa, bị mất (nói bị mất, thật ra nói bị chìm mới đúng, vì chủng tử niệm Phật vẫn còn đó, đâu có mất, chẳng qua là bị những chủng tử hữu lậu khác đè lên mà thôi).

Từ đó tôi đặt tên “nhập tâm” để chỉ những vị mới được nghe tiếng tự niệm Phật của tự tánh, để tránh ỷ lại, giải đãi, buông trôi, mà phải tiếp tục huân trưởng thuần thục (phải nghe suốt thời gian còn thức) mới gọi là đạt Bất niệm tự niệm, bảo đảm vãng sanh. Nhập tâm chỉ là bước đầu của Bất niệm tự niệm.

67. Hỏi: Người đạt Bất niệm tự niệm sâu, có còn vọng niệm không? Bao giờ mời trừ hết vọng niệm?

Đáp: Người đạt Bất niệm tự niệm sâu, vọng niệm ít khởi. Thỉnh thoảng vẫn có khởi, nhưng vừa khởi lên liền tự dứt. Đây là điều vi diệu, độc đáo nhất của pháp môn này.

Liên tông Thập nhị Tổ Triệt Ngộ thiền sư nói: “Chỉ có đức Phật mới vô niệm, còn từ Đẳng giác Bồ tát trở xuống đều hữu niệm”. Như vậy từ “vô niệm” mà ta thường dùng đó là không tà niệm, chứ không phải là không niệm (xin chớ hiểu lầm).

Liên tông Cửu Tổ Ngẫu Ích đại sư nói: “Nhập vô tưởng định vẫn còn tám vạn bốn ngàn (84.000) loạn tưởng khô khan”.

Ngài Lý Bỉnh Nam nói: “Trong khoảng khảy ngón tay có sáu mươi sát na. Mỗi sát na có một trăm mười ý niệm”. Như vậy, trong khoảng khảy ngón tay có sáu ngàn sáu trăm (6.600) ý niệm. Những ý niệm ta thường biết đó là những ý niệm thô, còn những ý niệm vi tế, ta khó bề hay biết được.

68. Hỏi: Người tu Tịnh nghiệp phải đến trình độ nào mới được vãng sanh theo ý muốn?

Đáp: Hành giả phải đạt Lý niệm Phật Tam muội (Lý nhất tâm bất loạn), mới được vãng sanh về Tịnh Độ trong mười phương theo ý muốn. (Xin đọc câu đáp 35B).

Pháp sư Tịnh Không nói: “Niệm Phật Thành một khối cũng có thể tự tại vãng sanh”. Nghĩa là sống chết theo ý muốn.

69. Hỏi: Con quyết niệm Phật đạt Bất niệm tự niệm, bảo đảm vãng sanh, để thành Phật độ chúng sanh, nhưng vì phước mỏng, nghiệp dày, chướng sâu, huệ cạn, bệnh hoạn liên tục, có thể con chết sớm chưa đạt Bất niệm tự niệm, vậy con có được vãng sanh không?

Đáp:

a. Đức Phật dạy: “Bình thời cây to hay bức tường lớn nghiêng hẳn về hướng Tây, khi giông bão tới, cây sẽ ngã, tường sẽ đổ về huớng Tây chứ không thể ngã đổ về hướng nào khác được, vì nó đã nghiêng hẳn về hướng đó rồi”.

b. Cũng vậy, hành giả Tịnh nghiệp đã có Tín và Nguyện là đã có hướng về rồi, bây giờ cần hành sâu (nghiêng hẳn, có được điểm tối thiểu) để có đủ điều kiện giờ chót vãng sanh.

c. Dù chưa đạt Bất niệm tự niệm, nhưng nhờ công đức niệm Phật nên:

– Được tiêu trừ nhiều nghiệp chướng, sanh nhiều phước đức (Kinh nói: “Niệm một câu A Di Đà Phật diệt được tám mươi ức kiếp trọng tội sanh tử, hưởng được tám mươi ức kiếp công đức vi diệu”). Hiện nay bệnh hoạn đủ thứ đó là trả nợ (trả nợ, sẽ hết nợ) đó là hiện tượng chuyển nghiệp nặng thành nhẹ, nghiệp nhẹ thành không, vậy thì, đáng mừng không gì phải lo sợ.

– Huân tập nhiều chủng tử niệm Phật trong tạng thức, dù hiện đời chưa đủ điều kiện (chưa chín mùi) để khởi hiện hành (nhập Tâm) nhưng cũng tương đối nhiều, lớn mạnh (chín nhưng chưa mùi mà thôi) để trước giờ phút lâm chung, thánh chúng và Phật đến phóng hào quang gia hựu (tăng thượng duyên, nâng cấp, giúp cho thêm điểm để đủ điểm đậu) giúp hành giả có chánh niệm, niệm Phật để Phật tiếp dẫn vãng sanh. Phải hiểu gia hựu (gia hộ, gia bị) là tăng thượng duyên (cho thêm điểm) Thí dụ: mười điểm được đậu, Phật đến cho thêm hai điểm, bản thân mình phải có tám điểm mới đậu. Bằng như mình chỉ có từ một đến bảy điểm thì đành chịu rớt.
Bởi vậy, trước giờ phút lâm chung, người niệm Phật nào cũng đều được Phật đến gia hựu (cho thêm điểm, nâng cấp), nhưng đâu phải người nào cũng được Phật tiếp dẫn đâu, đương sự phải có đủ điểm tối thiểu (tám điểm nói trên, nhân sắp chín mùi, gọi là đủ duyên, Phật mới độ được là vậy). Không thể hoàn toàn dựa vào tha lực mà phải có tự lực làm nhân, làm duyên.

Tin hiểu như thế mới là chánh tín, bằng không sẽ rơi vào mê tín. Quý liên hữu nên nhớ kỹ điều này.

70. Hỏi: Bạch Thầy, trước đây con khỏe mạnh, làm chủ điều hành một cửa tiệm, công việc suông sẻ, gia đình hạnh phúc, các con học hành thành đạt. Con đi chùa nghe quí Thầy giảng nào là: Ta bà vô thường, khổ… bố thí tài thì kiếp sau được giàu có. Bố thí vô úy sẽ không bệnh tật, được sống lâu… Cực Lạc vui sướng, không già, không bệnh, không chết… Một đời thành Phật… Con ngộ được con đường phải đi, nên phát tâm ăn chay trường, hành bố thí cúng dường, tinh tấn dõng mãnh niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc.

Ngày nọ, con thấy mấy bạn con bị đủ thứ khổ nạn. Con nghĩ nếu kiếp sau con cũng vậy thì khổ lắm, nên con nguyện kiếp này bao nhiêu tội nghiệp con lãnh hết, để kiếp sau con về Cực Lạc tu hành thành Phật độ chúng sanh. Con thường nghĩ rằng, con trường chay, ngày đêm niệm Phật không ngừng nghỉ thì Phật A Di Đà cùng chư Phật mười phương hộ niệm con, cuộc đời con sẽ thăng hoa hơn.

Nào ngờ trái ngược hẳn, khoảng sáu tháng qua, bao nhiêu điều xui xẻo đổ ập vào gia đình con. Riêng bản thân con bị mổ mấy lần rồi, mổ cổ mới lành, lại mổ bao tử. Nay con đau yếu đủ thứ, niệm Phật con phải cố gắng lắm mới niệm được, còn lạy Phật thì con đành chịu thua không lạy nổi. Con sợ con sẽ chết trước khi con được Nhập tâm, Bất niệm tự niệm, mất phần vãng sanh theo ý nguyện của con. Bao lần qua, con định thưa với Thầy, nhưng con ngại quá, hôm nay con thật chịu không nổi nữa! Kính xin Thầy từ bi cứu vớt đệ tử. Con xin bái Thầy ba lạy để tạ ơn. Nam mô A Di Đà Phật.

Đáp: Tôi rất cảm động và thông cảm hoàn cảnh của cô, sau đây tuần tự tôi xin góp ý với cô như sau:

(1) Trước đây gia đình cô hoàn toàn hạnh phúc, đó là quả của nhân thiện đến lúc chín mùi. Trong lúc đó, những nhân không thiện vẫn còn tiềm phục trong Tạng thức, chờ đủ duyên sẽ phát khởi ra.

(2) Những lời quý Thầy dạy là hoàn toàn đúng.

(3) Cô tỉnh ngộ, dõng mãnh phát tâm tu hành: trường chay, hành bố thí, cúng dường, quyết tâm tinh tấn niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc là hoàn toàn đúng như pháp.

(4) Cô nghĩ mình hành trì như vậy sẽ được Đức Từ phụ Di-đà và chư Phật trong mười phương hộ niệm cô, cuộc đời cô sẽ thăng hoa hơn, cũng đúng.

(5) Trước những khổ nạn của các bạn, cô sợ là đúng, nhưng đã sợ, thì lẽ ra cô tinh tấn tu hành hơn là quá tốt. Đằng này cô nguyện bao nhiêu tội nghiệp cho cô được trả hết trong đời này (gọi là dồn nghiệp) để cô vãng sanh, để rồi khi gặp khổ, thì không chịu nổi. Nguyện dồn nghiệp là sai, sai chỗ nào?

– Thứ nhất, không phải hết nghiệp mới được vãng sanh, vì mình có quyền mang nghiệp đi vãng sanh, như Phật, Tổ đã nói, gọi là đới nghiệp vãng sanh.

– Thứ hai, túc nghiệp con người nhiều biết bao nhiêu kể cho xiết, từ từ trả trong nhiều đời nhiều kiếp. Mặt khác, ta nên tinh tấn tu hành để chuyển nghiệp nặng thành nhẹ, nghiệp nhẹ thành không. Những chủng tử ác đó bây giờ còn tồn tại chờ đợi cơ hội (đủ duyên), lúc nợ chưa đáo hạn thì bao giờ thời điểm đã chín mùi (nợ đáo hạn) mới khởi hiện hành (mới phải trả nợ). Đằng này cô nguyện dồn nghiệp (trả nợ trước ngày đáo hạn), thì những việc cô cho là xui xẻo, đều không phải xui xẻo gì hết, mà chư Phật tác nghịch duyên theo đúng sở nguyện của cô đấy.

Tuy nhiên nợ nhiều quá, trả một lần làm sao cô trả nổi. Lỗi tại ai? Có phải vì quan niệm sai lầm của cô không?

Bây giờ phải làm sao? Theo tôi, cô phải khẩn thiết phát nguyện lại, nguyện đức từ phụ A Di Đà cùng chư Phật trong mười phương gia bị cho cô được phục hồi sức khỏe, dõng mãnh tinh tấn niệm Phật đạt Bất niệm tự niệm để cô được đới nghiệp vãng sanh Cực Lạc, thành Phật độ chúng sanh.

Nếu mạng số cô hết, chắc chắn cô được vãng sanh với điều kiện cô phải an nhẫn hành trì niệm Phật A Di Đà cho đến giờ phút cuối cùng, quyết định như vậy không tí nghi ngờ gì cả.

Nhớ! Chính niềm nghi gây chướng ngại vãng sanh.

Đức Thế Tôn đã dạy: “Bình thường cây to, tường lớn nghiêng hẳn về hướng nào, khi gặp mưa to gió lớn quyết định cây đỗ, tường ngã về hướng đã nghiêng hẳn từ trước”. (Hãy đọc câu đáp 69A).

Hằng ngày sau thời khóa công phu, tôi sẽ phục nguyện và hồi hướng công đức cho cô sớm đạt thành sở nguyện.

Nam mô A Di Đà Phật

Ghi chú: Trên đây là tôi thuật lại để làm bài học cho quý liên hữu. Nay xin hoan hỉ báo rằng: liên hữu này đã hồi phục sức khỏe như xưa. Khi đang viết câu vấn đáp này, tôi nhận được điện thoại báo rằng cô niệm Phật đã được nhập tâm tuần rồi, nhưng cô chờ kiểm nghiệm lại cho chắc mới báo.
71. Hỏi: Tu Tịnh nghiệp có cần diệt tham, sân, si không? Nếu cần thì làm sao?

Đáp: Tham, sân, si (tà kiến) là tam độc cần phải dẹp trừ. Đối với hành giả Tịnh Độ chỉ cần duy nhất một câu “A Di Đà Phật”. Vạn đức hồng danh nầy có công năng diệt tội, sanh phước, tăng trưởng thiện căn và chuyển tám thức thành bốn trí, thành Phật còn có dư.

1. Khi niệm sân vừa móng khởi hoặc đã khởi hiện hành (đã nổi cơn sân), chỉ cần nhiếp tâm niệm Phật là xong. Vì tâm một lúc không thể làm hai việc, khi niệm Phật thì niệm sân tự diệt. Bởi vậy Cổ đức dạy: “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm (không nhớ, quên niệm Phật)”.

2. Giải pháp trên chỉ là trị ngọn. Sau đây mới là trị tận gốc.

Hành giả niệm Phật là huân tập chủng tử vạn đức vào tạng thức. Tại đây, chủng tử vô lậu này sẽ chuyển hóa (tịnh hóa) chủng tử hữu lậu như tham, sân, si… Tiến trình chuyển hóa này cũng gọi là bạch tịnh hóa hoặc thanh tịnh hóa tạng thức. Khi trong tạng thức không còn chủng tử hữu lậu nữa, (tham, sân, si…) thì tạng thức biến thành vô cấu thức, cũng gọi là bạch tịnh thức (A mạt la thức, thức thứ chín). Tiếp theo đó là Đại viên cảnh trí, thành Phật. Kinh Niệm Phật Ba La Mật nói: “Công đức danh hiệu Phật chuyển hóa thân tâm dần dần thanh tịnh mà mình không hề hay biết” là vậy.

72. Hỏi: Người chuyên tu Tịnh nghiệp có cần tụng Kinh sám hối như Lương Hoàng sám và Thủy sám không?

Đáp: Đối với hành giả chuyên tu Tịnh nghiệp, tụng những Kinh sám hối ấy không phải là chánh hạnh, mà là tạp hạnh.

Pháp sư Tịnh Không nói:

– “Niệm Phật là sám hối, Khi niệm Phật tinh tấn, thường thấy bệnh nghiệp hiện tiền, đó là một hiện tượng chuyển nghiệp, đem tội nặng của quá khứ biến thành tội báo nhẹ hiện tại, vì nguyện lực lớn hơn nghiệp lực”. “Khi có tâm sám hối, thề không tái phạm, tức là đã sám hối”. “Phải đoạn ác tu thiện mới đúng nghĩa sám hối”.

– “Thật ra, hết thảy Kinh pháp đều là vì tiêu nghiệp chướng, nhưng nếu nghiệp chướng quá nặng thì tất cả hết thảy Kinh pháp đều mất tác dụng, chẳng thể tiêu trừ tội nghiệp, nhưng vẫn còn có cách riêng để tiêu trừ”.

– Trong sách Quán Kinh Trực Chỉ là sách chú giải Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Ngài Từ Vân Quán Đảnh nói: “Hết thảy tội nghiệp chẳng thể tiêu sạch được, tối hậu, chỉ có niệm A Di Đà Phật mới có thể thật sự tiêu tai”.

Liên Trì Cảnh Sách nói: “Muốn tiêu trừ nghiệp chướng phải niệm Phật, lễ Phật”. Dùng nhất niệm vạn đức hồng danh chí tôn vô thượng để trung hòa tất cả vọng niệm và thói xấu tham, sân, si từ vô thủy kiếp đến nay. Những nghiệp chướng nặng nề này sẽ dung hòa vào câu thánh hiệu Nam mô A Di Đà Phật, (người niệm) được đức Phật A Di Đà đại từ đại bi và tất cả chư Phật trong muời phương hộ niệm, che chở, bảo bọc, giúp tiêu trừ nghiệp chướng của chính mình.

“Lễ Phật chính là mỗi ngày chuyên lạy Phật A Di Đà để sám hối nghiệp chướng của chúng ta”. “Lễ Phật một lạy tội diệt Hằng sa”.

Quán Kinh nói: “Niệm một câu A Di Đà Phật diệt được trọng tội sanh tử tám mươi ức kiếp”.

Vậy niệm Phật, lễ Phật là đã sám hối rồi, dành thì giờ tụng Kinh sám hối nói trên để niệm Phật, lễ Phật A Di Đà vừa được diệt hết thảy tội, vừa được tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc, có tốt hơn không?

73. Hỏi: Người tu Tịnh nghiệp tụng Kinh A Di Đà và các Kinh Đại thừa khác được không?

Đáp: Nói chung, tụng Kinh Phật, trì các chú ngữ là quý rồi, xét riêng hành giả chuyên tu Tịnh nghiệp thì:

– Tụng Kinh A Di Đà là chánh hạnh mà nghiệp phụ. Niệm Phật A Di Đà là chánh hạnh mà nghiệp chánh.

– Còn tụng các Kinh khác, dù là Kinh Đại thừa cũng là tạp hạnh.

Vả lại, danh hiệu A Di Đà Phật là vua các chú (Tuyết Hư Lão Nhân Tịnh Độ Tuyển Tập). Vậy niệm A Di Đà Phật là cao tột, thù thắng hơn trì tụng bất cứ chú ngữ nào khác (xin đọc phần IV, mục 2. Công đức niệm Phật, sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh).

Liên Trì Cảnh Sách dạy: “Niệm Phật chính là tụng hết thảy Kinh. Một câu Nam mô A Di Đà Phật là tinh hoa cô đọng của ba tạng Kinh điển”.

Liên tông Thập nhất Tổ Tĩnh Am đại sư, Liên tông Thập nhị Tổ Triệt Ngộ đại sư, và Pháp sư Tịnh Không đồng dạy: “Niệm Phật phải niệm không xen tạp, không gián đoạn”. Liên tông Bát Tổ Liên Trì đại sư cũng dạy: “Bí quyết của niệm Phật là niệm nhiều, niệm không xen tạp, không gián đoạn”. Tụng Kinh là xen tạp gián đoạn quá nhiều rồi.

Vả lại, trong bốn mươi tám đại nguyện của Phật A Di Đà có nguyện nào nói tụng bao nhiêu biến Kinh để được Ngài tiếp dẫn đâu? Mà nguyện thứ mười tám nói: niệm mười niệm là được Ngài tiếp dẫn. Vậy thì, tụng Kinh và niệm Phật, cái nào hợp với bản nguyện của đức Phật A Di Đà, hợp với lời dạy của đức Bổn sư Thích Ca, chư Thầy, Tổ, cái nào trọng yếu hơn?

Hành giả hãy dành thì giờ tụng Kinh để niệm Phật (bốn chữ hay sáu chữ chuyên nhất, gắn gọn dễ nhập tâm hơn). Niệm nhiều, thì huân trưởng hạt giống Phật càng lớn, đạt Bất niệm tự niệm bảo đảm vãng sanh, đúng chí nguyện của mình, đúng bản nguyện của đức từ phụ A Di Đà, đúng lời chỉ giáo của đức Bổn sư Thích Ca, đúng sự mong chờ của chư Thầy, Tổ. Vậy ta còn chần chờ, chọn lựa gì nữa?

74. Hỏi: Người tu Tịnh nghiệp có bắt buộc phải thọ Tam qui, ngũ giới không?

Đáp: Không bắt buộc, nhưng nếu đủ điều kiện, thì nên thọ.

Trong giới luật dạy:

“Quy y Phật khỏi đọa địa ngục,
Quy y Pháp khỏi đọa ngạ quỷ,
Quy y Tăng khỏi đọa bàng sanh” (súc sanh).
Quán Đỉnh Kinh quyển thứ ba nói: “Nếu người thọ Tam quy, Ngũ giới thì đức Phật sắc cho Thiên Đế: Ông sai Thiên thần gồm sáu mươi mốt (61) người, ngày đêm, năm tháng đi theo thủ hộ người thọ giới, đừng để cho các quỷ thần ác đột ngột gây não hại”.

Vậy thì, thọ Tam qui sẽ không bị đọa ba đường ác. Nếu thọ thêm Ngũ giới, giữ gìn

trọn vẹn, sẽ được Thiên thần thủ hộ, được sống an lành, không bị quỷ thần ác não hại. Đây là tối thắng duyên giúp hành giả dễ tiến tu, sớm thành tựu Tịnh nghiệp.

75. Hỏi: Người tu Tịnh nghiệp có bắt buộc phải ăn chay trường không?

Đáp: Không bắt buộc, nhưng hành giả Tịnh Độ quyết tâm vãng sanh Tây phương Cực Lạc, thành Phật độ chúng sanh, mà còn ăn thịt chúng sanh là thiếu tâm từ bi. Tâm này không tương ưng với tâm Phật nên khó vãng sanh phẩm vị cao. Tổ thứ tám Liên Trì đại sư dạy: “Ăn thịt chúng sanh đồng tội với sát sanh”, “Ác lớn nhất là sát sanh”. Ăn chay là ngưng sát sanh, ngừng được nghiệp sát. Vậy ăn chay được càng nhiều ngày càng tốt, trường chay là quý nhất. Lại nữa, Tổ cũng dạy: “Trong các hạnh thiện, phóng sanh là bậc nhất”.

Vì sao? Vì chúng sanh tham sống, sợ chết. Phóng sanh là cứu mạng sống chúng sanh, là mình tự tu Tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả), tự tu một trong Lục độ (bố thí: bố thí tài, bố thí pháp, bố thí vô úy) và tự sám hối (chuộc tội sát sanh trước đây). Được vậy người này hưởng phước đức hiện đời là không bệnh hoạn, được sống lâu. Nếu hồi hướng vãng sanh Cực Lạc, thì đã chuyển phước đức thành công đức. Công ít mà phước nhiều, nhân nhỏ mà quả to. Không cần phải chờ ngày lễ lớn phóng sanh chim, cá mà hằng ngày nên phóng sanh kiến, dán, ruồi, muỗi,… khi chúng vào nhà cũng tốt lắm rồi.

76. Hỏi: Chúng sanh có thể niệm danh hiệu của các đức Phật khác, có thể cầu sanh về các cõi khác. Cần gì riêng niệm đức Phật A Di Đà cầu sanh về Cực Lạc?

Đáp: Ở đây có bảy nghĩa:

– Một là, vì tâm chúng sanh phần nhiều vẩn đục, tán loạn, nếu niệm khắp cả chư Phật, sẽ khó thành tựu tam muội. Vì vậy, chỉ nên chuyên niệm một đức Phật cầu sanh một cõi nước, khiến cho tâm ý buộc vào một cảnh, dễ thành tựu vãng sanh.

– Hai là, vì đại nguyện từ bi của Phật A Di Đà vô tận, tiếp dẫn những chúng sanh niệm Phật, cho đến niệm mười tiếng cũng được vãng sanh. Còn các đức Phật khác không có nguyện đó.

– Ba là, vì cõi Cực Lạc đủ mọi công đức trang nghiêm thù thắng, khác với những cõi khác. Chúng sanh được sanh về đó dễ tiến đạo hơn.

– Bốn là, vì phàm phu không có trí tuệ, nên y theo lời Phật dạy. Cõi Cực Lạc này đã được đức Phật Thích Ca khẳng định và lặp đi lặp lại khắp trong các kinh điển. Chư Phật nhiều như cát sông Hằng thảy đều khen ngợi.

– Năm là, nếu những chúng sanh nào không có duyên với Phật, Phật không thể độ. Còn chúng sanh ở cõi này, chẳng luận già trẻ, sang hèn, trí ngu… người nào cũng biết có Phật A Di Đà, bất chợt cũng (thốt ra) niệm một câu A Di Đà Phật. Thế nên biết, chúng sanh ở cõi này có nhân duyên lớn với Phật A Di Đà.

– Sáu là, thể tánh của tất cả chư Phật đồng nhau. Một là tất cả, tất cả là một, niệm một đức Phật là niệm tất cả chư Phật.

– Bảy là, Phật A Di Đà là Pháp giới tạng thân, nên niệm A Di Đà Phật là niệm tất cả chư Phật.

Do đó ta chỉ nên chuyên niệm A Di Đà Phật, nguyện sanh về Cực Lạc, thì sự lợi ích vô cùng to lớn!

77. Hỏi: Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy tu Tam phước. Phước thứ ba là Phát bồ đề tâm. Vậy, làm sao Phát bồ đề tâm?

Đáp: Bồ đề là tên khác của quả vị Phật. Bồ đề tâm là tâm làm Phật. Phát Bồ đề tâm là phát khởi cái tâm trên cầu thành Phật đạo, dưới giáo hóa chúng sanh (thượng cầu hạ hóa). Đấy là Bồ đề tâm nguyện.

Có một số ít chùa thực hiện lễ Phát Bồ đề tâm theo nghi thức đặc biệt.

– Tịnh Độ tông Thập nhất Tổ Tĩnh Am đại sư dạy: “Tướng trạng Bồ đề tâm có tám loại, đó là: chánh, tà, chân, ngụy, đại, tiểu, thiên, viên”. (Xin đọc Khuyến phát Bồ đề tâm văn).

– Tịnh Độ tông Cửu Tổ Ngẫu Ích đại sư dạy: “Người niệm Phật A Di Đà cầu nguyện vãng sanh Cực Lạc để thành Phật cứu độ hết thảy chúng sanh”. Đó là đương nhiên đã phát Bồ đề tâm rồi.

Nam Mô A Di Đà Phật

78. Hỏi: Bồ đề tâm hạnh là gì?

Đáp: Bồ đề tâm hạnh là những thiện hạnh nhằm mục đích thành Phật độ chúng sanh.

Nó rộng lớn bao trùm lục độ vạn hạnh của Bồ tát. Hành giả tu năm mươi hai (52) giai vị Bồ tát (Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác) đều tu Bồ đề tâm hạnh để thành Phật. Niệm Phật là hạnh chánh của Bồ đề tâm hạnh.

79. Hỏi: Hành giả chuyên tu khi lâm bệnh, có cần niệm Phật Dược Sư hay tụng Kinh Dược Sư để trị bệnh không?

Đáp: Kinh Vô Lượng Thọ nói Phật A Di Đà là vua trong các vị Phật (Phật trung chi vương). Vậy thì, Phật Dược Sư trị lành bệnh, chẳng lẽ Phật A Di Đà trị bệnh không được sao?

Vả lại, nếu niệm Phật Dược Sư, tụng Kinh Dược Sư là tạp tu, bị xen tạp và bị gián đoạn rồi.

“Linh tại ngã, bất linh tại ngã”. Nếu ta có lòng tin nơi Phật A Di Đà thì nên niệm Phật A Di Đà, nhất cử không những lưỡng tiện mà là vạn tiện (được lành bệnh, lại thêm được vãng sanh Cực Lạc).

80. Hỏi: Hành giả chuyên tu Tịnh nghiệp khi bị đau ốm, khổ nạn, có cần niệm Quán Thế Âm Bồ tát để được cứu khổ cứu nạn không?

Đáp: Kinh Thập Vãng Sanh nói: “Đức Phật A Di Đà sai hai mươi lăm vị Bồ Tát trong đó có Quán Thế Âm Bồ tát ngày đêm hộ trì người niệm Phật”. Như vậy đâu phải chờ hành giả niệm danh hiệu Ngài, Ngài mới hộ trì đâu.

Kinh cũng nói: “Người niệm Phật mỗi ngày mười vạn (100.000) câu trở lên, Phật A Di Đà sẽ trực tiếp hộ niệm người ấy”.

Kinh Vô Lượng Thọ nói Phật A Di Đà là vua trong các vị Phật (Phật trung chi vương). Phật A Di Đà là Thầy của Quán Thế Âm Bồ tát. Quán Thế Âm Bồ tát cứu khổ cứu nạn được, chả lẽ Phật A Di Đà chẳng cứu khổ cứu nạn được sao?

Mặt khác, xét về mặt công đức, các Kinh, luận nói như sau:

– Kinh Thập Luận nói: “Một trăm kiếp niệm Quán Thế Âm, chẳng bằng khoảng thời gian một bữa ăn niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng”.

– Tịnh Độ Quần Nghi Luận nói: “Một đại kiếp niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng, chẳng bằng niệm một câu A Di Đà Phật”.

Vậy thì, công đức niệm một câu A Di Đà Phật so với công đức niệm một câu Quán Thế Âm Bồ Tát, nhiều gấp trăm, ngàn, vạn, ức, ức… lần, không sao kể xiết. Hiểu vậy người trí chọn niệm nào?

“Linh tại ngã, bất linh tại ngã”, nghĩa là linh hay không linh cũng tự nơi mình, tin thì linh, không tin thì không linh.

Thiết nghĩ, hành giả chuyên tu chánh hạnh, chánh định nghiệp, luôn được Phật A Di Đà và chư Bồ tát bảo hộ, hãy để quý Ngài tự an bài, mình chẳng cần lo nghĩ gì khác, mặc kệ mọi tình tình huống, chỉ một bề niệm Phật, tích công lũy đức, cầu vãng sanh Cực Lạc là thượng sách.
81. Hỏi: Thầy nói vậy, sao những vị niệm Phật công phu đắc lực vẫn còn bị những thứ bệnh tật, hoạn nạn hoành hành vậy?

Đáp: Nên hiểu rằng: Luật nhân quả là luật tự nhiên có từ muôn đời (trước khi Đức Phật hiện thế), có Phật hay không có Phật, luật nhân quả vẫn tồn tại khách quan. Đức Phật chỉ là người dạy chúng ta biết, chứ đức Phật không thể sửa đổi được luật nhân quả. Có chăng, Ngài chỉ giúp chuyển hóa phần nào thôi. Ví dụ: nghiệp nặng chuyển thành nhẹ, nghiệp nhẹ chuyển thành không, chứ nghiệp nặng (định nghiệp) không thể chuyển thành không được. Đức Phật vạn năng nhưng không phải toàn năng. Đức Phật chỉ độ được người hữu duyên theo luật nhân quả. Nếu đức Phật toàn năng thì ngày giờ này, đâu có chúng sanh ngồi ở đây, mà chúng ta đã thành Phật hết rồi, phải không?

Hiểu như vậy là tự giải đáp câu hỏi trên. Hiểu như vậy mới là chánh tín, bằng không sẽ lạc vào mê tín.

Hành giả nào tin sâu nhân quả, tin sâu lòng đại từ đại bi cứu độ của chư Phật, chư Bồ tát, quí vị này sẽ phó thác, giao cả sanh mạng này cho chư Phật, chư Bồ tát an bài, quí Ngài vui vẻ chấp nhận mọi nghịch cảnh, an nhiên tự tại Lão thật niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc, thành Phật độ chúng sanh.

82. Hỏi: Mấy hôm rồi, sau mười giờ đêm, trong lúc mọi người trong nhà ngủ hết, con đang tịnh tọa niệm Phật, bỗng dưng nghe tiếng lộp cộp khi lớn khi nhỏ ở trong nhà, có khi tiếng ấy phát ra từ ngoài cửa sổ, làm con mất chánh niệm. Lên giường nằm lắng lòng nghe tiếng niệm Phật của Tự tánh, con lại cũng nghe tiếng động như trước. Tình trạng này làm con niệm Phật không được và mất ngủ, nên con mệt nhọc, bơ phờ quá! Một vài bạn của con cũng bị như vậy. Vậy phải làm sao, thưa Thầy?

Đáp: Oan gia trái chủ đấy! Nghiệp chướng, nghiệp báo đấy! Nghịch khảo đấy! Người tu công phu đắc lực thường bị (không hẳn là ai cũng bị, tùy theo túc nghiệp của mỗi người). Sự khảo đảo bao gồm sáu loại: nội khảo, ngoại khảo, thuận khảo, nghịch khảo, minh khảo, ám khảo. Hành giả phải nên biết điều này để sẵn sàng vượt qua.

Xin gợi ý vài cách đối trị như sau:

(1) Sau mỗi thời khóa, hành giả nên hồi hướng công đức hành trì cho oan gia trái chủ để giải oan.

(2) Hãy quan niệm rằng: “Nợ thì phải trả, trả xong hết nợ” mới nhẹ gánh, dễ vãng sanh. Không nên lo sợ, buồn phiền trách móc ai cả.

(3) Hãy nghĩ (quán chiếu) nó là giả, là không, thì không có gì phải lo sợ.

(4) Nhiếp nhĩ căn (phớt lờ không để ý nghe nó nữa) một mực niệm Phật hoặc nghe danh hiệu Phật phát xuất từ Tự tánh.

Làm được như vậy, liên hữu mới có thể thành tựu Tịnh nghiệp, bằng không, những ngày qua liên hữu đã bại trận (gãy gánh giữa đường) rồi đấy!

Kính chúc liên hữu thành công như ý.

Ghi chú: Trong lúc sách đang dàn trang để in, có một cú điện thoại viễn liên báo tin: tình trạng trên (tiếng lộp cộp) không còn nữa, cô đang tiếp tục huân trưởng mức nhập tâm, một cách thoải mái.

Tôi thành kính chúc mừng, đồng thời tán thán ý chí, nghị lực và công đức hành trì của liên hữu!

Nam mô A Di Đà Phật.

83. Hỏi: Vài ngày trước, con ngồi tịnh tọa niệm Phật, khoảng hơn sáu mươi phút, bỗng nhiên con cảm nhận như có con rận hay rệp gì bò ở ngực, rất ngứa ngáy khó chịu. Con xả niệm Phật, cởi giũ áo, không thấy gì hết, mấy đêm liên tiếp như vậy. Kính xin Thầy giải thích giúp con.

Đáp: Nội khảo đấy! Người tu công phu có chút đắc lực thường bị khảo đảo. Cách đối trị:

– Nên giữ quần áo, thân thể vệ sinh đúng mức.

– Sau mỗi thời khóa công phu, hồi hướng công đức hành trì của mình cho oan gia trái chủ cùng mình vãng sanh Cực Lạc (giải oan).

– Cắn răng chịu đựng, nhiếp các căn, khẩn thiết niệm Phật, tự nhiên sẽ hết. Quả thật, khoảng một tuần lể sau tình trạng khuấy phá trên tự dứt.

84. Hỏi: Xin Thầy nói rõ cho chúng con biết sáu loại khảo là nội, ngoại, thuận, nghịch, minh, ám khảo là thế nào?

Đáp: Những nghiệp báo thiện ác gây đình trệ sự tu trì của hành gỉả gọi là “khảo” hay “khảo đảo”. Xin nói qua sáu loại khảo như sau:

(1) Nội khảo: Nội là trong, nội khảo là những gì từ trong thân tâm mình gây khó khăn con đường tu của chính mình.

Thí dụ: thân sinh ra đau bệnh đủ thứ như: nhức đầu, đau răng, đau bụng, sốt rét, ung thư… Tâm, tánh tình trở nên tham lam, bỏn xẻn, hẹp hòi ích kỷ, si mê, hôn trầm… (Câu hỏi 83A).

Cụ thể đã có những vị ngồi niệm Phật chừng mười lăm phút là ngủ gục, nhức đầu, mắc đi tiểu, có vị nặng hơn, gần như hôn mê, tiểu luôn tại chỗ.

(2) Ngoại khảo: ngoại là ngoài, ngoại khảo là những gì ngoài thân mình, nó gây khó khăn con đường tu của mình, như:

– Thời tiết nóng, lạnh, động đất, lũ lụt… Thân nhân, vợ chồng, cha mẹ, anh em, con cháu; thân bằng quyến thuộc, bằng mọi cách gây khó khăn trở ngại đường tu của mình.

(3) Thuận khảo: Nhờ công đức niệm Phật mà có thêm nhiều phước đức, nên cầu gì được nấy, muốn gì được nấy như:

– Mua may bán đắc, làm ăn phát tài.

– Danh vọng như ý, người đời thì thăng quan tiến chức, người đạo thăng trụ trì, viện chủ, có chùa to Phật lớn, được Phật tử trọng vọng, thậm chí thần thánh hóa mình.

Vì đắm nhiễm danh lợi nên bị sụp bẩy lợi danh, thoái thất việc tu hành. Người ta nói chết vì lửa thì ít mà chết vì nước thì nhiều. Người xưa nói: “Việc thuận tốt được ba. Mê lụy người đến già”.

Duyên thử thách của thuận khảo rất vi tế, người tu phải hết sức thận trọng!

(4) Nghịch khảo: Hành giả bị nghịch cảnh gây trở ngại như:

– Thân bằng quyến thuộc ngăn cản, phá hoại đường tu.

– Bản thân mang nhiều bệnh tật khó trị.

– Oan gia theo đuổi mưu hại (ma dựa, ma nhập).

– Kẻ xấu vu oan giá họa khiến bị tù đày.

– Tiểu nhân tranh đua, ganh ghét, rêu rao bêu xấu làm cho khó an nhẫn.

Tuy nhiên nghịch cảnh đôi khi lại giúp người tu tỉnh ngộ thấy rõ cuộc đời này vô thường, khổ não, phải tìm con đường giải thoát sanh tử luân hồi (Vãng sanh Cực Lạc).

(5) Minh khảo: đây là sự thử thách rõ ràng trước mắt, nhưng hành giả không tự tỉnh ngộ. Có nhiều trường hợp, xin kể vài thí dụ như sau:

– Người kém tài thiếu đức mà được kẻ xấu tâng bốc, bợ đỡ khen là nhiều đức hạnh, tài năng, có nhiều phước báo. Người này trở nên cống cao ngã mạn, khinh thường mọi người, làm những điều càn dở, bất chấp sự khuyên nhủ của thiện tri thức, kết cuộc bị thảm bại.

– Người có đạo tâm nhưng kém hiểu biết, nghe kẻ xấu xúi bậy, ngăn trở như nói ăn chay trường thiếu dinh dưỡng, sẽ gây nhiều bệnh, chết yểu… rằng tụng Kinh, trì chú, niệm Phật sẽ bị đổ nghiệp, xui xẻo…

– Tự biết mình không đủ khả năng, nhưng vì tham vọng cao xa, tin nghe những kẻ kém hiểu biết chuyên nịnh bợ, nên làm những việc ngoài tầm tay, kết quả thảm bại, lại không nghe lời khuyên nhủ của thiện tri thức, ương ngạnh, tự ái, liều lĩnh làm càng, phải chịu thảm bại nặng nề, kết cuộc thoái thất Bô đề tâm.

(6) Ám khảo: đây là sự thử thách trong âm thầm, không lộ liễu như một số ví dụ sau:

– Có người ban đầu tinh tấn ăn chay niệm Phật, sau làm ăn thất bại, gia kế sa sút, sanh lòng chán nản, trễ bỏ sự tu, thậm chí trở lại phỉ báng. Người này do không hiểu sâu luật nhân quả, nên sanh tệ trạng như thế.

– Có người, công việc làm ăn dần dần tiến triển thuận lợi, rồi ham mê đuổi theo lợi lộc mà quên lãng đường tu.

– Có người, cuộc sống điều hòa nhưng thời cuộc biến đổi, thân thế nhà cửa nay đổi, mai dời, tâm mãi hoang mang, bất giác lần lựa, bỏ sự trì niệm hồi nào không hay.

85. Hỏi: Ý nghĩa, mục đích của Phật thất là gì? Vì hoàn cảnh sinh sống, con không đến chùa dự Phật thất được, vậy lập Phật thất ở nhà có được không? Nếu được, phải tổ chức thế nào?

Đáp: “Phật thất” có ý nghĩa như sau: Phật là Phật A Di Đà, thất là bảy, “Phật thất” nghĩa là niệm Phật A Di Đà bảy ngày đêm. Mục đích của Phật thất là để tránh mọi duyên, lo chuyên tâm nhất ý niệm Phật sao cho không xen tạp, không gián đoạn, ngõ hầu được nhập tâm. Đối với người đã nhập tâm, tu Phật thất để huân trưởng đạt Bất niệm tự niệm, bảo đảm vãng sanh, thành Phật độ chúng sanh.

Nhập Phật thất là cách tu hiệu năng cao nhất. Do vậy nếu vì hoàn cảnh sinh hoạt không đến chùa hoặc tu viện được, thì nên tu Phật thất tại nhà. Thời gian dài ngắn gì cũng được, càng dài càng tốt, ít nhất là một ngày. Người dù bận rộn cách mấy, một tuần cũng có ít nhất một, hai ngày rảnh rang.

Như ông bà già phải giữ cháu để con đi làm. Hai ngày cuối tuần không đi làm, thì chúng phải tự giữ con, để bố mẹ nhập tu Phật thất, tự tạo hành trang về Cực Lạc.

Về hình thức và nội dung Phật thất, dựa vào cách tổ chức của chùa và tu viện, uyển chuyển tùy theo hiện cảnh gia đình, trọng nội dung hơn hình thức. Đại khái như sau:

– Chuẩn bị một căn phòng sạch sẽ ngăn nắp.

– Bàn thờ Phật trang nghiêm với đầy đủ nhang, đèn, hoa quả, nước cúng Phật. Đèn điện nhỏ để 24/24, đèn cầy và nhang thắp suốt thời gian còn thức.

– Tịnh khẩu suốt thời gian nhập Phật thất, ăn cơm tại phòng (do người hộ thất mang đến).

– Mỗi ngày công phu tối thiểu là mười bảy giờ, trong đó mười giờ cho định khóa Lão thật niệm Phật. Thức lúc 4 giờ sáng, ngủ lúc 9 giờ tối.

– Ngoài giờ định khoá, phải giữ danh hiệu Phật luôn hiện tiền, có thể nghe máy niệm Phật để danh hiệu Phật không bị gián đoạn.

– Chuyên tâm nhất ý niệm Phật A Di Đà (4 chữ hoặc 6 chữ) tuyệt đối không tụng Kinh, chú gì khác. Bất cứ sự việc gì làm xen tạp, gián đoạn danh hiệu Phật, nhất định không làm.

– Y áo chỉnh tề, thắp nhang, đèn, đứng trước bàn thờ Phật lễ ba lạy, phát nguyện: Nam mô A Di Đà Phật. Đệ tử tên là… pháp danh… hôm nay phát nguyện nhập Phật thất… ngày (thời gian). Cúi xin đức từ phụ A Di Đà và chư Phật trong mười phương từ bi chứng giám, hộ niệm cho con thân tâm an lạc, tinh tấn hành trì đạt được… (Bất niệm tự niệm hay nhập tâm), vãng sanh Cực Lạc, thành Phật độ chúng sanh. Nam mô A Di Đà Phật. Lễ Phật ba lạy. Xong tịnh tọa theo định khóa…

86. Hỏi: Lúc lâm chung, niệm mười câu Phật hiệu đã có thể vãng sanh, thế thì chúng tôi cứ lo việc khác, chờ lúc lâm chung niệm mười câu. Ðiều đó thế nào?

Đáp: Lúc lâm chung niệm mười câu Phật hiệu không phải là dễ (Xin đọc Phần III – Lý do không vãng sanh, sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh).

Vậy muốn lúc lâm chung niệm đủ mười câu Phật hiệu để được vãng sanh, ngay hiện đời phải tập niệm Phật cho thành thói quen. Nếu không, giờ phút lâm chung, bệnh khổ bức bách, tình cảm rối ren, thì khó mà niệm Phật được. Đó là chưa nói trường hợp bị hôn mê bất tỉnh, bất đắc kỳ tử… thì chắc chắn là không niệm Phật được, thì mất phần vãng sanh.

Đức Phật, chư Tổ dạy ta nên gieo hạt giống niệm Phật cho lớn mạnh, chín mùi, (thâm nhập nhất môn, trường kỳ huân tu) đến giờ phút lâm chung, chúng (chủng tử) mới khởi hiện hành (niệm Phật) được.

Mặt khác, điều tối quan trọng là người tu Tịnh nghiệp phải có đủ ba món tư lương là Tín, Nguyện và Trì danh (Hạnh) mới đủ điều kiện được đức Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sanh (Xin đọc Phần II – Tư Lương Tịnh Độ, sách Niệm Phật đạt bất niệm tự niệm bảo đảm vãng sanh).

87. Hỏi: Hạnh khởi giải tuyệt là thế nào?

Đáp: Bắt đầu công phu phải buông bỏ mọi kiến giải (hiểu biết), kể cả kiến giải Tịnh Độ. Buông bỏ không phải là vứt bỏ, mà là không chấp trước, không dính mắc.

Chư Tổ dạy: “Thế trí biện thông là một trong tám nạn”. Nghĩa là sự hiểu rõ, biện luận thông suốt việc đời, là một trong tám nạn, (nạn là gây trở ngại đường tu). Tại sao thế? Vì người ấy (người thế trí biện thông) tự cao, tự mãn, chấp chặc vào sự học rộng, hiểu nhiều của mình, sanh ra so đo, tính toán, nghi ngờ pháp mới học, nên không lãnh hội được, (gây chướng ngại cho sự tu học, gọi là sở tri chướng). Người đời là thế, tu sĩ cũng không khác.

Thí dụ: cái ly phải là ly trống (trống, không có gì cả) đổ nước mới vào, bằng như ly đầy nước, dù đổ thêm bao nhiêu nước mới, đều bị tràn ra ngoài hết, không vô tí nào cả.

Ví như, dù là tảng đá hay thỏi vàng, (kiến giải ) cũng vẫn che ngăn sức chiếu soi của gương sáng (Phật tánh, Đại viên cảnh trí).

Chư Tổ dạy: “Hành giả Tịnh Độ có ba hạng người:

(1) Thượng căn, thượng trí.

(2) Phàm phu sát đất, chất phát, thật thà, tín tâm sâu.

(3) Ở giữa hai hạng trên (dở dở, ương ương)”.

Hai hạng đầu tu dễ thành tựu, hạng thứ ba là chúng ta đây tu rất khó thành tựu. Tại sao?

Hạng thượng căn, thượng trí thấu rõ chân lý, có trí tuệ nên buông xả được.

Hạng chất phát thật thà, tín tâm sâu, nên không nghi ngờ, họ y giáo phụng hành (bảo sao làm vậy, không so đo, tính toán hơn thiệt gì cả).

Hạng thứ ba, buông xả không được như đã nói trên (ly nước đầy rồi, có đổ thêm, nước mới cũng tràn ra ngoài, không vô tí nào cả), Mặt khác lại thắc mắc, nghi ngờ đủ thứ, gây chướng ngại đường tu (sở tri chướng).

Bởi vậy, Pháp Nhiên thượng nhơn nói: “Trở lại ngu si mà niệm Phật”, Cổ đức cũng dạy: “Người học đạo trước tiên phải học ngu”. ”Ngu si” đây không phải là ngu dốt mà là buông xả hết cho đến không còn gì buông xả được nữa.

“Hạnh khởi, giải phải tuyệt”. Được vậy mới mong công phu đắc lực (hữu hiệu), chóng thành đạo quả.

88. Hỏi: Hành giả Tịnh nghiệp tinh tấn niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc, mà hằng ngày bị người bạn đời ngăn cấm, cản trở, gây khó khăn mọi điều, lại đốt phá Kinh sách, hình tượng Phật. Vậy phải làm sao đây?

Đáp: Có ba trường hợp:

(1) Bồ tát thị hiện để cảnh tỉnh, hoặc thử thách đạo tâm của liên hữu đấy.

Như thiền sư Đơn Hà đốt tượng Phật bằng gỗ để sưởi ấm, nhằm mục đích phá sự chấp tướng của thầy trụ trì.

Hãy an nhiên, bình tĩnh hành trì, không để bị dao động trước nghịch cảnh.

(2) Người hoặc không hiểu đạo, không rõ luật nhân quả, hoặc vì buồn phiền liên hữu điều gì đó, nên làm cho bỏ ghét thế thôi, không có ác ý gì hết.

Hãy bình tĩnh tìm nguyên nhân, hoặc tự kiểm tìm khuyết điểm của mình để sửa sai, hóa giải, là xong.

(3) Oan gia trái chủ đấy! Nghiệp chướng, nghiệp báo đấy! Nghịch khảo đấy!

Hiểu vậy rồi, hãy an nhiên tự tại, mặc kệ họ, không hờn trách, chẳng oán hận ai hết (có chăng, nên tự trách tiền kiếp mình quá dở), nhẫn nại chịu đựng, hoan hỉ trả nợ cho nhẹ gánh để công phu đắc lực hơn, cuối cùng được vãng sanh.

Nên nhớ:

– Tùy duyên nhưng bất biến, “Tùy duyên” nghĩa là linh động, uyển chuyển hành trì sao cho thích ứng với hoàn cảnh, “Bất biến” nghĩa là không để bị chao đảo, tiến chứ không thoái. (Ý nói trọng thực chất hơn hình thức).

– Chư Tổ dạy: “Lấy chướng ngại làm duyên tiến đạo” biến nghịch cảnh làm động cơ thúc đẩy để ta nguyện thiết, hành chuyên hơn.

– Kiên trì, dõng mãnh hành trì, chí thành hồi hướng công đức cho đối nhơn.

– Chư Phật, chư Bồ tát, Thiện thần Hộ pháp luôn hộ niệm ta, đây là sự thử thách, là cây thước đo đức tin, đạo lực của ta. Công phu càng khó khăn, thành tựu càng nhanh và càng vẻ vang ngoài mức tưởng tượng của mình.

– Thành tựu của mình là gương sáng cảnh tĩnh mọi người, là bài học cho bạn đạo.

Nói dễ, làm khó, đây không phải là lý thuyết suông, đã có hai vị thành công rồi, chúng tôi vững tin rằng nếu làm đúng chỉ dẫn trên, chắc chắn sẽ thành công.

Kính chúc liên hữu thành tựu như ý.

89. Hỏi: Con trường chay, niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc trên mười năm rồi, tháng rồi đủ phước duyên, con được đọc quyển sách “Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh” của Thầy, con vui mừng vô hạn, không khác kẻ bần cùng được gặp của báu. Con cố gắng hành trì đúng như Thầy chỉ dạy, ngặt vì con quá bận rộn sinh kế, gia duyên ràng buộc. Sáng, trưa, chiều, tối, cả ngày phải đối diện với việc làm ăn, với vợ con, quyến thuộc, mắt thấy tai nghe đều là việc chướng đạo. Do đó, con niệm Phật không nhập tâm được. Con nhất quyết đời này phải vãng sanh Cực Lạc, liễu sanh thoát tử, nên con định xuất gia, thoát tục để được rảnh rang, công phu đắc lực hơn, hầu đạt Bất niệm tự niệm như Thầy chỉ dạy, nhưng bà xã con không đồng ý, vậy con phải làm sao?, kính xin thầy từ bi chỉ dạy con.

Đáp: Liên hữu quyết chí hiện đời phải đạt Bất niệm tự niệm để bảo đảm được vãng sanh Cực Lạc là điều rất tốt. Mỗi người có nghiệp riêng, phải biết tùy duyên. Đừng nghĩ người xuất gia rảnh rang, thoát tục và công phu đắc lực hơn người tại gia.

a. Về sự rảnh rang:

Người xưa nói: “Vị trước cà sa hiềm đa sự. Trước vị cà sa sự hựu đa”. Nghĩa là chưa đắp cà sa than nhiều việc. Đắp cà sa rồi việc lại nhiều hơn. Bận rộn hay thảnh thơi ở nơi tâm mình, không ở nơi thân tại gia hay xuất gia.

Liên tông Thập tam Tổ Ấn Quang đại sư dạy: “Một lòng không trụ muôn cảnh đều nhàn”. Nghĩa là làm tất cả mọi việc mà lòng không chấp trước, dính mắc thì luôn luôn an nhàn, (tâm thảnh thơi).

b. Về việc xuất gia thoát tục:

Xuất gia có ba nghĩa: xuất thế tục gia, xuất phiền não gia và xuất tam giới gia. Chủ yếu là hai nghĩa sau, là xuất phiền não gia và xuất tam giới gia. Nếu chỉ xuất thế tục gia thôi thì còn sinh tử luân hồi, trôi lăn trong sáu nẻo.

Người xuất gia có ba hạng:

– Thân xuất gia mà tâm không xuất gia,

– Thân không xuất gia mà tâm xuất gia.

– Thân, tâm đều xuất gia (dĩ nhiên hạng người này tốt nhất).

Vì hoàn cảnh, và chưa đủ phước duyên, liên hữu nên làm hạng người thứ hai. Thân không xuất gia mà tâm xuất gia cũng là tốt hơn hạng người thứ nhất rồi.
Người tu Tịnh nghiệp phải lấy sự nghiệp niệm Phật làm chánh yếu, nên Tổ sư Pháp Nhiên dạy: “Đã tu Tịnh Độ thì mọi chuyện trong đời đều y theo niệm Phật mà quyết định. Ở nhà niệm Phật được, thì cứ ở nhà mà niệm Phật” (có nghĩa là không bắt buộc phải vào chùa, vào chùa mà không niệm Phật được thì ở nhà niệm Phật vẫn tốt hơn). (Niệm Phật Tông Yếu câu đáp 71, Pháp Nhiên thượng nhân).

Xưa nay, mắt thấy tai nghe những người tại gia thành tựu Tịnh nghiệp, vãng sanh Cực Lạc nhiều vô số kể, có bắt buộc phải xuất gia đâu?

Điều quan trọng là:

(1) Tại gia hay xuất gia, mỗi mỗi đều có cái tốt của riêng nó. Tùy phước duyên của mỗi người, không nên thiên chấp. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Tùy duyên nhưng bất biến. Bất biến nhưng phải tùy duyên”.

(2) Nhìn thấu: Tức thấy rõ rằng: “Vạn pháp giai không”, nghĩa là tất cả các pháp, bản chất của nó là không. Gia đình cũng vốn là rỗng rang, nên ta chỉ làm hết bổn phận, trách nhiệm, mà không đắm luyến trước giờ phút lâm chung.

(3) Buông xuống, tức là xả. Xả không có nghĩa là vất bỏ, mà là không dính mắc, không chấp trước. Người xưa nói: “Quạ lướt mặt hồ không để bóng. Gió lùa khóm trúc chẳng lưu vang” là ý này.

Xả một được một, xả mười được mười, xả tất cả được tất cả (xả đắc).

(4) Tin sâu, nguyện thiết, hành chuyên (đúng theo sự chỉ dẫn trong sách “Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh”.

(5) Phải có quyết tâm cao, bền lòng vững chí, sẵn sàng san bằng mọi trở ngại, chướng duyên để đạt được mục tiêu cuối cùng là vãng sanh Cực Lạc, thành Phật độ chúng sanh.

Thành kính chúc liên hữu thành tựu viên mãn chí nguyện vãng sanh Cực Lạc, thành Phật độ chúng sanh.

90. Hỏi: Ba má con nay trên bảy mươi tuổi rồi, không tin Phật. Con khuyên niệm Phật, chẳng những ông bà không theo, mà còn mắng con, Vậy con phải làm sao?

Đáp: Đức Phật dạy: “Tùy duyên chứ đừng phan duyên”. Phan duyên sanh phiền não. Tùy duyên mới được tự tại. Bậc cha mẹ thường nghĩ là mình bao giờ cũng giỏi hơn con cháu, nên ít khi chịu nghe lời khuyên (khẩu giáo) của con cháu. Việc này không dễ, phải nhẫn nhục, kiên trì nỗ lực không ngừng.

Liên hữu nên cố gắng miên mật (không gián đoạn) hành trì đúng lời chỉ dẫn trong sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh, công phu đắc lực đạt Bất niệm tự niệm, từ đó, có những điểm lợi sau đây:

a. Tự tạo được từ trường tốt, chuyển hóa dần dần tâm của song thân.

b. Nhờ công đức của danh hiệu Phật, thân tâm liên hữu chuyển đổi tốt, có thể làm gương mẫu cho mọi người (thân giáo). Nhờ đấy, song thân liên hữu sẽ nhận ra lợi ích của sự niệm Phật, tự động nghe lời khuyên của liên hữu.

c. Liên hữu đã có công đức, hồi hướng công đức tu hành cho song thân.

d. Nếu đủ phước và ý chí, liên hữu tiến tu đạt niệm Phật thành một khối (một phiến, một mãng). Pháp sư Tịnh Không nói: “Đây là tiểu chứng, dùng công đức tu hành này hồi hướng cho cửu huyền thất tổ mình đều được siêu thăng”. Vậy thì độ cha mẹ là quá dễ.

e. Bằng không, thì vãng sanh Cực Lạc rồi trở về Ta bà báo hiếu, cứu độ song thân sau.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s